
Phát triển khu kinh tế cửa khẩu trên địa bàn tỉnh Cao Bằng trong bối cảnh chuyển đổi số
16:54 - 22/06/2026
Nguyễn Đức Anh, Bộ Tài chính
Nguyễn Quốc Việt, Viện khoa học quản lý và sáng tạo ứng dụng
Tóm lược: Khu kinh tế cửa khẩu (KKTCK) là một dạng không gian kinh tế đặc thù, trong đó lợi thế vị trí biên giới chỉ tạo ra giá trị phát triển khi được kết hợp với thể chế vượt trội, hạ tầng kết nối, năng lực logistics, chất lượng quản trị và khả năng tham gia chuỗi giá trị xuyên biên giới. Bài viết phân tích phát triển KKTCK trên địa bàn tỉnh Cao Bằng trong bối cảnh chuyển đổi số, tái cấu trúc chuỗi cung ứng và yêu cầu xây dựng cửa khẩu thông minh Việt Nam - Trung Quốc. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành giữa kinh tế phát triển, kinh tế không gian, quản trị công, logistics và kinh tế số, nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp, thống kê mô tả, so sánh chính sách và phân tích SWOT/TOWS. Kết quả cho thấy giai đoạn 2021-2026, Cao Bằng đã hình thành khung quy hoạch quan trọng, từng bước nâng cấp hạ tầng cửa khẩu, cải thiện thủ tục hành chính, phục hồi mạnh hoạt động xuất nhập khẩu và đặt nền móng cho mô hình cửa khẩu số. Tuy nhiên, quy mô kinh tế cửa khẩu còn nhỏ so với tiềm năng, hạ tầng logistics và hạ tầng dữ liệu chưa đồng bộ, thu hút FDI còn hạn chế, doanh nghiệp dẫn dắt chuỗi cung ứng chưa nhiều, năng lực nhân lực số và quản trị dữ liệu còn yếu. Bài viết đề xuất mô hình KKTCK thế hệ mới dựa trên sáu trụ cột: thể chế đặc thù; hạ tầng kết nối - logistics số; cửa khẩu thông minh và hải quan số; cụm ngành chế biến - thương mại điện tử xuyên biên giới; hợp tác Việt Nam - Quảng Tây; và phát triển bền vững, bao trùm, an ninh biên giới.
Từ khóa: Khu kinh tế cửa khẩu; Cao Bằng; chuyển đổi số; cửa khẩu thông minh; logistics biên giới; kinh tế số.
Mã JEL: R11, R58, F15, O18, O33, H54.
Abstract
Border-gate economic zones represent a special form of territorial development in which geographical advantages can be translated into economic value only when supported by superior institutions, connective infrastructure, logistics capability, governance quality and participation in cross-border value chains. This article examines the development of border-gate economic zones in Cao Bang Province, Viet Nam, in the context of digital transformation, supply-chain restructuring and the emerging agenda of smart border gates between Viet Nam and China. Using an interdisciplinary framework integrating development economics, new economic geography, public governance, logistics and digital economy studies, the paper applies secondary-data analysis, descriptive statistics, policy comparison and SWOT/TOWS analysis. The findings suggest that during 2021-2026 Cao Bang developed an important planning framework, upgraded border infrastructure, improved administrative procedures, recovered strongly in cross-border trade and laid the foundation for a digital-border model. Nevertheless, the scale of the border economy remains modest compared with its potential; logistics and data infrastructure remain fragmented; FDI attraction is limited; anchor firms are scarce; and digital skills and data governance capacity are still weak. The paper proposes a new-generation model of border-gate economic zone development based on six pillars: special institutional mechanisms; connective infrastructure and digital logistics; smart border gates and digital customs; processing clusters and cross-border e-commerce; Viet Nam-Guangxi cooperation; and sustainable, inclusive and secure border development.
Keywords: Border-gate economic zone; Cao Bang; digital transformation; smart border; border logistics; digital economy.
1. Đặt vấn đề
Phát triển kinh tế cửa khẩu đang chuyển từ logic mở cửa - trao đổi hàng hóa sang logic kết nối - xử lý dữ liệu - tối ưu chuỗi cung ứng. Trong mô hình truyền thống, cửa khẩu chủ yếu được nhìn nhận như điểm kiểm soát hành chính đối với hàng hóa, phương tiện và con người qua biên giới. Trong mô hình mới, cửa khẩu trở thành nút mạng của chuỗi giá trị khu vực, nơi hội tụ thương mại, logistics, dịch vụ tài chính, kiểm định, truy xuất nguồn gốc, thương mại điện tử xuyên biên giới, quản trị rủi ro và dữ liệu thời gian thực. Sự chuyển dịch này làm thay đổi căn bản tiêu chí đánh giá một KKTCK: không chỉ đo bằng diện tích quy hoạch hay kim ngạch thông quan, mà còn bằng tốc độ xử lý dữ liệu, độ tin cậy của quy trình, năng lực dự báo, mức độ tích hợp số và khả năng tạo giá trị gia tăng tại chỗ. Trên bình diện quốc tế, các khu kinh tế đặc biệt và khu kinh tế biên giới chỉ thành công bền vững khi được tích hợp vào chiến lược phát triển quốc gia, có hạ tầng kết nối hiệu quả, thể chế quản trị rõ ràng và liên kết chặt với khu vực doanh nghiệp trong nước (Farole, 2011; UNCTAD, 2019). Điều này đặc biệt quan trọng đối với các địa phương miền núi, biên giới, nơi lợi thế vị trí thường đi kèm với bất lợi về địa hình, khoảng cách thị trường, quy mô doanh nghiệp nhỏ, thiếu nhân lực chất lượng cao và chi phí logistics lớn. Do đó, một KKTCK không thể phát triển chỉ nhờ ưu đãi thuế hoặc vị trí tiếp giáp thị trường lớn; năng lực cạnh tranh cốt lõi phải đến từ thể chế, kết nối, logistics, công nghệ, năng lực quản trị và chất lượng hệ sinh thái kinh doanh.
Đối với Việt Nam, phát triển kinh tế cửa khẩu gắn trực tiếp với hai mục tiêu chiến lược: thúc đẩy tăng trưởng và liên kết vùng; đồng thời bảo đảm quốc phòng, an ninh, chủ quyền biên giới và sinh kế cư dân biên giới. Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 10/02/2022 của Bộ Chính trị về phát triển vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, được Chính phủ cụ thể hóa bằng Nghị quyết số 96/NQ-CP ngày 01/8/2022, đã đặt ra yêu cầu nâng cao kết nối vùng, phát triển các cực tăng trưởng, thúc đẩy liên kết kinh tế biên giới và bảo đảm an ninh khu vực biên giới (Chính phủ, 2022b). Trong bối cảnh đó, Cao Bằng không chỉ là một địa phương biên giới mà còn là một mắt xích chiến lược của hành lang kinh tế Việt Nam - Trung Quốc và kết nối ASEAN với khu vực Tây Nam Trung Quốc.
Cao Bằng có diện tích tự nhiên khoảng 6.700,3 km2, gồm thành phố Cao Bằng và 09 huyện theo Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050; tỉnh có đường biên giới trên 333 km tiếp giáp Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây, Trung Quốc, với nhiều cửa khẩu, cửa khẩu phụ và lối mở (Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng, 2023a; Trang thông tin đối ngoại tỉnh Cao Bằng, 2026). KKTCK Cao Bằng được thành lập theo Quyết định số 20/2014/QĐ-TTg và được phê duyệt Quy hoạch chung xây dựng đến năm 2040 theo Quyết định số 295/QĐ-TTg ngày 02/3/2022 (Chính phủ, 2014, 2022). Quy hoạch tỉnh Cao Bằng được phê duyệt tại Quyết định số 1486/QĐ-TTg ngày 24/11/2023 tiếp tục xác định kinh tế cửa khẩu, du lịch, nông nghiệp đặc sản, công nghiệp chế biến và hạ tầng kết nối là các động lực phát triển quan trọng (Chính phủ, 2023). Mặc dù sở hữu vị trí địa kinh tế quan trọng, KKTCK Cao Bằng vẫn đối mặt với nghịch lý phát triển: tiềm năng biên mậu lớn nhưng quy mô tích tụ kinh tế còn hạn chế; có mạng lưới cửa khẩu rộng nhưng logistics giá trị gia tăng chưa phát triển tương xứng; có định hướng cửa khẩu thông minh nhưng hạ tầng dữ liệu và năng lực doanh nghiệp số còn yếu; có nhu cầu thu hút FDI nhưng số lượng dự án và quy mô vốn FDI vẫn nhỏ so với các địa phương cửa khẩu cạnh tranh như Lạng Sơn, Quảng Ninh hoặc Lào Cai. Đây là vấn đề nghiên cứu có ý nghĩa cả về học thuật và thực tiễn chính sách.
Bài viết tiếp cận KKTCK như một hệ sinh thái phát triển tích hợp giữa thể chế, hạ tầng, logistics, công nghệ số, đổi mới sáng tạo và liên kết quốc tế, thay vì chỉ như một khu vực ưu đãi đầu tư. Thứ hai, bài viết cập nhật bối cảnh chính sách mới đến năm 2026, đặc biệt là Nghị quyết số 57-NQ/TW, Nghị quyết số 03/NQ-CP, Nghị quyết số 193/2025/QH15, Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 và Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025. Thứ ba, bài viết xây dựng mô hình KKTCK thế hệ mới cho Cao Bằng dựa trên logic cửa khẩu thông minh - logistics số - cụm ngành chế biến - thương mại điện tử xuyên biên giới - quản trị dữ liệu - phát triển bền vững.
