Phát triển Cụm liên kết ngành cơ khí và công nghiệp hỗ trợ tại Đà Nẵng

10:13 - 12/10/2026

ThS. Phạm Hải Phong, TS. Trương Thị Chí Bình,  Phạm Thị Quỳnh Nga

Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương

Tóm tắt: Nghiên cứu đề xuất chương trình phát triển cụm liên kết ngành cơ khí và công nghiệp hỗ trợ tại Đà Nẵng giai đoạn 2027–2030 trên cơ sở rà soát doanh nghiệp, khảo sát năng lực cung ứng và nhu cầu của doanh nghiệp đầu chuỗi. Kết quả cho thấy thành phố có nền tảng sản xuất nhưng còn thiếu cơ chế chuyển nhu cầu mua hàng thành dự án nâng cấp và đơn hàng cho doanh nghiệp nội địa. Giải pháp trọng tâm gồm hỗ trợ lãi suất dự kiến 200 tỷ đồng cho khoảng 20 doanh nghiệp và chương trình thí điểm liên kết 34,75 tỷ đồng, khởi động 17 dự án phát triển nhà cung ứng. Kết quả nghiên cứu là chương trình hành động cụ thể để doanh nghiệp nâng năng lực và hình thành quan hệ cung ứng, với vốn đầu tư, doanh thu theo độ trễ, đầu mối, tiến độ và chỉ tiêu kiểm chứng. Các mức kinh phí và kết quả tài chính là phương án dự kiến, cần cập nhật theo hồ sơ dự án thực tế.

Từ khóa: công nghiệp cơ khí; công nghiệp hỗ trợ; cụm liên kết ngành; Đà Nẵng; phát triển nhà cung ứng.

1. Đặt vấn đề và cơ sở nghiên cứu

Sau hợp nhất với Quảng Nam, Đà Nẵng có không gian phát triển công nghiệp rộng hơn, kết hợp các lợi thế về nghiên cứu, đào tạo, công nghệ cao và dịch vụ với nền tảng sản xuất ô tô, cơ khí và công nghiệp hỗ trợ tại Chu Lai. Khu thương mại tự do mở ra cơ hội thu hút đầu tư, kết nối sản xuất với logistics và thị trường quốc tế; đồng thời, các trung tâm sản xuất tại Đà Nẵng, Huế và Quảng Ngãi tạo điều kiện liên kết vật liệu, chế tạo linh kiện và lắp ráp. Tuy nhiên, quan hệ cung ứng giữa các doanh nghiệp còn đơn lẻ; doanh nghiệp nhỏ và vừa thiếu thông tin thị trường, vốn và năng lực công nghệ; các hoạt động hỗ trợ còn phân tán, chưa tập trung vào nhu cầu cụ thể của chuỗi sản xuất. Vì vậy, nghiên cứu phát triển cụm liên kết ngành cơ khí và công nghiệp hỗ trợ là cần thiết để tổ chức các nguồn lực thành mạng lưới hợp tác, phát huy vai trò của doanh nghiệp đầu chuỗi và mở rộng sự tham gia của doanh nghiệp nội địa. Trọng tâm nghiên cứu là xây dựng chương trình hành động khả thi, gắn hỗ trợ đầu tư, nâng cấp năng lực và phát triển nhà cung ứng với sản phẩm, khách hàng và kết quả cụ thể.

1.1. Lý thuyết cụm và kinh nghiệm quốc tế

Theo Porter, cụm liên kết ngành là sự tập trung về địa lý của các doanh nghiệp có quan hệ với nhau, nhà cung ứng chuyên môn hóa, dịch vụ và tổ chức hỗ trợ trong một lĩnh vực [4]. Lợi thế của cụm hình thành qua chuyên môn hóa, tiếp cận lao động và dịch vụ kỹ thuật, trao đổi tri thức và sức ép nâng năng suất. Khung kim cương định hướng xem xét điều kiện đầu vào, nhu cầu thị trường, ngành liên quan và hỗ trợ, cùng chiến lược và cạnh tranh của doanh nghiệp. Do đó, số doanh nghiệp cùng đặt tại một khu công nghiệp chưa đủ chứng minh đã có cụm hoạt động; cần nhận diện quan hệ mua bán, hợp tác kỹ thuật và khả năng nâng cấp nhà cung ứng.

Nghiên cứu kinh nghiệm Malaysia và Thái Lan có thể gợi ý các cơ chế triển khai. Tại Penang, Trung tâm Phát triển kỹ năng PSDC được thành lập năm 1989 theo mô hình hợp tác ba bên và do doanh nghiệp dẫn dắt, gắn đào tạo với nhu cầu công nghiệp [3]. Tại Thái Lan, BOI tổ chức SUBCON và các hoạt động tìm nguồn cung, đồng thời thúc đẩy phát triển nhà cung ứng bằng đào tạo công nghệ và hỗ trợ kỹ thuật [2]. Bài học vận dụng cho Đà Nẵng là huy động doanh nghiệp đầu chuỗi xác nhận nhu cầu, tổ chức dịch vụ kỹ thuật và nhân lực theo yêu cầu sản xuất, hỗ trợ doanh nghiệp nội địa vượt qua đánh giá của khách hàng. Liên kết cần có đầu mối theo dõi đến mẫu thử và đơn hàng, thay vì dừng ở gặp gỡ tại triển lãm.

Thông tin chi tiết bài viết tại đây