Phát triển chuỗi cung ứng và kết nối logistics Việt Nam – Campuchia: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

13:18 - 27/07/2026

ThS. Nguyễn Ngọc Quang, ThS. Phan Thế Quyết

Nguyễn Kiều Ly

Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương

1. Một số vấn đề lý luận về phát triển chuỗi cung ứng và kết nối Logistics giữa hai quốc gia

1.1 Phát triển chuỗi cung ứng

1.1.1 Khái niệm về chuỗi cung ứng

- Khái niệm chuỗi cung ứng

Về lịch sử phát triển, thuật ngữ “chuỗi cung ứng” được sử dụng rộng rãi từ cuối thập niên 1980, nhưng những nền tảng lý luận liên quan đã xuất hiện sớm hơn trong các nghiên cứu về dòng chảy vật chất và thông tin trong hệ thống phân phối công nghiệp.

Forrester (1958) là một trong những tác giả đặt nền móng cho tư duy hệ thống khi phân tích mối quan hệ giữa dòng thông tin, đơn hàng, tồn kho và năng lực đáp ứng trong hệ thống sản xuất - phân phối.

Ganesham, Ran & Terry (1995) đưa ra quan điểm “Chuỗi cung ứng là một mạng lưới các lựa chọn sản xuất và phân phối nhằm thực hiện các chức năng thu mua nguyên liệu, chuyển đổi nguyên liệu thành bán thành phẩm và thành phẩm và phân phối chúng cho khách hàng” trong khi Lambert và các cộng sự (1998) quan niệm rằng “Chuỗi cung ứng là sự liên kết giữa các công ty chịu trách nhiệm mang sản phẩm hoặc dịch vụ ra thị trường”.

Mentzer và cộng sự (2001), đã định nghĩa “Chuỗi cung ứng là tập hợp của ba hay nhiều hơn có liên quan trực tiếp đến dòng chảy qua lại của sản phẩm, dịch vụ, tài chính và thông tin từ nguyên liệu đến khách hàng”. Như vậy, có thể thấy chuỗi cung ứng lúc này không chỉ bao gồm các nhà sản xuất, nhà cung cấp, mà còn bao gồm các đơn vị vận chuyển, kho bãi, bán lẻ và chính khách hàng. Hay hiểu một cách đơn giản thì chuỗi cung ứng là sự kết nối của các bên liên quan bao gồm nhà cung cấp, nhà sản xuất, khách hàng và các đơn vị liên quan khác.

“Chuỗi cung ứng bao gồm mọi công đoạn có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến việc đáp ứng nhu cầu khách hàng. Chuỗi cung ứng không chỉ gồm nhà sản xuất và nhà cung cấp, mà còn gồm nhà vận chuyển, kho, người bán lẻ và bản thân khách hàng” (Chopra & Meindl, 2007). Có thể thấy quan điểm này cũng tương tự quan điểm của Mentzer, hay nói cách khác, quan điểm này cũng chỉ ra rằng: sự kết nối các nhà cung cấp, khách hàng, nhà sản xuất và các tổ chức cung cấp dịch vụ liên quan đến quá trình kinh doanh chính là chuỗi cung ứng.

Dưới góc độ chuẩn hóa và an ninh hàng hóa quốc tế, theo Tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 28000:2013 (tại mục 3.9, Mục 3), chuỗi cung ứng (supply chain) dược định nghĩa là: “Tập hợp các nguồn lực và quá trình liên kết với nhau, bắt nguồn từ việc cung cấp nguyên liệu và mở rộng đến việc giao sản phẩm hoặc dịch vụ tới ngưới sử dụng cuối cùng thông qua các phương thức vận tải”. Kết nối losgistic giữa hai quốc gia là sự liên thông, phối hợp đồng bộ về hạ tầng vật chất, thể chế chính sách và dữ liệu thông tin nhằm đảm bảo dòng chảy hàng hóa xuyên biên giới diễn ra an toàn, hiệu quả và đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. Điểm cốt lõi của khái niệm này là chuỗi cung ứng không dừng lại ở hoạt động vận chuyển hàng hóa, mà bao gồm toàn bộ cấu trúc tổ chức và quản trị để tạo lập, phân phối, kiểm soát và nâng cao giá trị trong quá trình lưu chuyển hàng hóa.

Như vậy, trên cơ sở tổng hợp các quan điểm nghiên cứu, có thể hiểu chuỗi cung ứng hàng hóa là “mạng lưới liên kết các tổ chức, con người, thông tin và nguồn lực tham gia vào quá trình tạo ra và đưa sản phẩm hoặc dịch vụ từ nhà cung cấp nguyên liệu thô đến tận tay khách hàng cuối cùng”. Trong toàn bộ quá trình này, các dòng vật chất, thông tin và tài chính được quản lý, điều phối và phối hợp một cách thống nhất nhằm tối ưu hóa hiệu quả hoạt động của toàn chuỗi, giảm chi phí, nâng cao chất lượng dịch vụ và đáp ứng nhu cầu của thị trường.

1.1.2 Vai trò của chuỗi cung ứng

Thứ nhất, tạo thuận lợi cho dòng chảy hàng hóa xuyên biên giới và nâng cao hiệu quả thương mại quốc tế. Chuỗi cung ứng hàng hóa xuyên biên giới giữ vai trò tổ chức, điều phối và tối ưu hóa dòng lưu chuyển nguyên liệu, bán thành phẩm, thành phẩm, thông tin và tài chính giữa các quốc gia. Một chuỗi cung ứng được tổ chức hiệu quả giúp giảm thời gian giao hàng, hạn chế tình trạng đứt gãy trong quá trình cung ứng, giảm chi phí tồn kho, vận tải và giao dịch, đồng thời nâng cao độ tin cậy của hoạt động xuất nhập khẩu. Đối với các quốc gia có chung đường biên giới như Việt Nam và Campuchia, chuỗi cung ứng xuyên biên giới còn góp phần khai thác lợi thế vị trí địa lý, thúc đẩy thương mại biên giới, nâng cao hiệu quả lưu thông hàng hóa và tạo nền tảng cho sự phát triển của hệ thống logistics hiện đại. Theo Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và UNCTAD, hiệu quả của chuỗi cung ứng ngày càng trở thành một trong những yếu tố quyết định năng lực tham gia thương mại quốc tế của mỗi quốc gia.

Thứ hai, thúc đẩy liên kết sản xuất, chuyên môn hóa và hình thành chuỗi giá trị khu vực. Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, chuỗi cung ứng không chỉ là quá trình lưu chuyển hàng hóa mà còn là cơ chế liên kết giữa các doanh nghiệp, ngành sản xuất và nền kinh tế của nhiều quốc gia. Thông qua sự phân công lao động và chuyên môn hóa theo lợi thế so sánh, các quốc gia có thể tham gia vào những công đoạn khác nhau của chuỗi giá trị, từ cung ứng nguyên liệu, sản xuất, chế biến đến phân phối và tiêu thụ sản phẩm. Đối với Việt Nam và Campuchia, sự bổ trợ về cơ cấu sản xuất, vị trí địa lý và nhu cầu thị trường tạo điều kiện thuận lợi để hình thành các chuỗi cung ứng xuyên biên giới đối với nông sản, vật liệu xây dựng, dệt may, cao su, hạt điều và nhiều ngành hàng khác. Đây cũng là cơ sở quan trọng để hai nước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị khu vực ASEAN, Tiểu vùng Mekong mở rộng (GMS) và chuỗi giá trị toàn cầu.

Thứ ba, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và của nền kinh tế. Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, lợi thế cạnh tranh không chỉ phụ thuộc vào chi phí sản xuất mà còn phụ thuộc vào khả năng tổ chức chuỗi cung ứng hiệu quả. Một chuỗi cung ứng xuyên biên giới được quản trị tốt sẽ giúp doanh nghiệp tối ưu hóa nguồn cung, rút ngắn thời gian đưa sản phẩm ra thị trường, nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu khách hàng, tăng tính minh bạch trong truy xuất nguồn gốc và đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật quốc tế. Đồng thời, chuỗi cung ứng hiệu quả còn góp phần nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí logistics, tăng năng lực xuất khẩu và cải thiện môi trường đầu tư, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế quốc gia. Trong bối cảnh hội nhập khu vực, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và quốc gia ngày càng gắn chặt với mức độ phát triển của chuỗi cung ứng xuyên biên giới.

Thứ tư, nâng cao khả năng chống chịu và thích ứng của chuỗi cung ứng trước các biến động toàn cầu. Những biến động trong thời gian qua như đại dịch COVID-19, xung đột địa chính trị, biến đổi khí hậu, gián đoạn vận tải quốc tế, biến động giá năng lượng và xu hướng tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu đã cho thấy yêu cầu cấp thiết phải xây dựng các chuỗi cung ứng có khả năng thích ứng và phục hồi cao. Một chuỗi cung ứng xuyên biên giới được tổ chức hợp lý, đa dạng hóa nguồn cung, đa dạng hóa phương thức vận tải và tăng cường chia sẻ thông tin giữa các chủ thể sẽ giúp giảm thiểu rủi ro đứt gãy, duy trì tính liên tục của hoạt động sản xuất, thương mại và logistics. Do đó, phát triển chuỗi cung ứng không chỉ hướng tới mục tiêu tối ưu hóa chi phí mà còn hướng tới nâng cao tính linh hoạt, khả năng chống chịu và phát triển bền vững trong bối cảnh kinh tế thế giới nhiều biến động.

Thứ năm, thúc đẩy hội nhập kinh tế khu vực và tăng cường hợp tác giữa các quốc gia. Chuỗi cung ứng xuyên biên giới là cầu nối quan trọng giữa các hiệp định thương mại tự do với hoạt động sản xuất và thương mại thực tiễn của doanh nghiệp. Sự phát triển của chuỗi cung ứng góp phần hiện thực hóa các cam kết trong Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC), Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA), Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) cũng như các cơ chế hợp tác trong Tiểu vùng Mekong mở rộng (GMS). Đồng thời, quá trình hình thành và vận hành chuỗi cung ứng xuyên biên giới cũng thúc đẩy sự phối hợp giữa các quốc gia trong việc hoàn thiện thể chế, hài hòa tiêu chuẩn kỹ thuật, đơn giản hóa thủ tục hải quan, tăng cường kết nối hạ tầng, chia sẻ dữ liệu và phát triển các dịch vụ logistics hiện đại. Đối với Việt Nam và Campuchia, đây là điều kiện quan trọng để nâng cao hiệu quả thương mại song phương, phát huy lợi thế của các hành lang kinh tế xuyên biên giới và từng bước hình thành không gian kinh tế liên kết, góp phần phát triển bền vững và nâng cao vị thế của hai quốc gia trong chuỗi giá trị khu vực.

Từ những phân tích trên có thể thấy, chuỗi cung ứng hàng hóa xuyên biên giới không chỉ là sự kết nối giữa các hoạt động cung ứng, sản xuất và phân phối, mà còn là nền tảng thúc đẩy thương mại, đầu tư, logistics và hội nhập kinh tế giữa các quốc gia. Đối với nghiên cứu phát triển chuỗi cung ứng hàng hóa và kết nối logistics Việt Nam – Campuchia, việc phát triển chuỗi cung ứng hiệu quả sẽ tạo cơ sở để nâng cao năng lực kết nối logistics, giảm chi phí giao dịch, tăng khả năng tham gia chuỗi giá trị khu vực, đồng thời góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển thương mại bền vững và tăng cường liên kết kinh tế giữa hai nước trong giai đoạn tới.

Thông tin chi tiết bài viết tại đây