Phát triển các đặc khu kinh tế: Kinh nghiệm một số nước Châu Á và bài học cho Việt Nam

15:00 - 26/08/2026

ThS. Trương Thị Mỹ Ngọc

Công ty cổ phần tập đoàn Stronglife

Tóm lược: Bài viết phân tích sự chuyển đổi của mô hình đặc khu kinh tế từ công cụ ưu đãi thuế và thúc đẩy xuất khẩu sang nền tảng thể chế theo địa bàn nhằm thu hút đầu tư chất lượng cao, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, liên kết chuỗi giá trị, chuyển đổi xanh và quản trị số. Trên cơ sở tổng hợp có cấu trúc các nghiên cứu học thuật, báo cáo của Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển châu Á, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế, Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển cùng các văn bản chính sách chính thức, nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích thể chế, so sánh trường hợp và đối chiếu chính sách để khảo sát kinh nghiệm Trung Quốc, Hàn Quốc, mô hình liên kết Malaysia-Singapore và Indonesia; đồng thời đánh giá tiến trình của Việt Nam giai đoạn 2021-2026. Kết quả cho thấy lợi thế bền vững của đặc khu thế hệ mới không còn nằm chủ yếu ở miễn, giảm thuế mà ở phần bù thể chế: chất lượng quản trị, hạ tầng kết nối, cơ chế một cửa, năng lực đổi mới, dữ liệu, nhân lực, tiêu chuẩn xanh và mức độ liên kết với doanh nghiệp nội địa. Đối với Việt Nam, sự xuất hiện của khu thương mại tự do, Trung tâm tài chính quốc tế, cơ chế đột phá khoa học-công nghệ và khuôn khổ thuế tối thiểu toàn cầu tạo ra cửa sổ chính sách để tái thiết kế mô hình đặc khu.

Từ khóa: đặc khu kinh tế; khu thương mại tự do; đầu tư trực tiếp nước ngoài; đổi mới sáng tạo; thể chế; Việt Nam.

Abstract

This article examines the transformation of special economic zones from tax-incentive and export-promotion instruments into place-based institutional platforms for attracting high-quality investment, fostering innovation, strengthening value-chain linkages, enabling green transition, and improving digital governance. Drawing on a structured synthesis of academic studies, reports by the World Bank, Asian Development Bank, OECD and UNCTAD, as well as official policy documents, the study applies institutional analysis, comparative case studies and policy benchmarking to China, the Republic of Korea, the Malaysia-Singapore cross-border model, Indonesia, and Viet Nam during 2021-2026. The findings indicate that the sustainable advantage of next-generation zones increasingly derives not from tax holidays but from an institutional premium: governance quality, connectivity, single-window administration, innovation capacity, data infrastructure, skilled labour, green standards and domestic firm linkages. In Viet Nam, the emergence of free trade zones, an international financial centre, breakthrough mechanisms for science and technology, and the global minimum tax framework creates a policy window for redesigning the zone model.

Keywords: special economic zones; free trade zones; foreign direct investment; innovation; institutions; Viet Nam.

1. Đặt vấn đề

Đặc khu kinh tế là một trong những công cụ chính sách theo địa bàn được sử dụng rộng rãi nhất trong quá trình công nghiệp hóa và hội nhập quốc tế. Về bản chất, đây là không gian địa lý được xác định rõ, trong đó Nhà nước áp dụng một tập hợp quy tắc, thủ tục, dịch vụ công, cơ chế hải quan, đầu tư và quản trị khác biệt hoặc thuận lợi hơn so với mặt bằng chung nhằm khắc phục các thất bại thị trường và thất bại phối hợp. Khác với quan niệm giản lược coi đặc khu chỉ là nơi ưu đãi thuế cao hơn, cách tiếp cận hiện đại xem đặc khu là một nền tảng thể chế có khả năng đồng thời cung cấp hạ tầng, giảm chi phí giao dịch, tạo hiệu ứng tụ tụ, thử nghiệm cải cách và kết nối doanh nghiệp vào mạng sản xuất toàn cầu (UNCTAD, 2019; World Bank, 2017).

Sự phổ biến của các đặc khu phản ánh cả sức hấp dẫn lẫn tính không chắc chắn của công cụ này. UNCTAD ghi nhận hơn 5.000 khu vào năm 2019, trong khi các tổng hợp mới của OECD cho thấy số lượng khu kinh tế đặc biệt trên thế giới đã vượt 7.000, nhưng chỉ một bộ phận tạo được đóng góp đáng kể và bền vững cho phát triển vùng (OECD, 2026b; UNCTAD, 2019). Kinh nghiệm quốc tế cho thấy cùng một nhãn đặc khu có thể bao hàm những kết quả rất khác nhau: một số khu trở thành cực tăng trưởng, trung tâm đổi mới và cửa ngõ chuỗi giá trị; nhiều khu khác rơi vào trạng thái ốc đảo xuất khẩu, phụ thuộc ưu đãi, liên kết yếu với nền kinh tế địa phương hoặc tạo chi phí tài khóa, đất đai và môi trường cao. Vì vậy, câu hỏi chính sách không còn là có nên thành lập đặc khu hay không, mà là đặc khu nào, ở đâu, với chức năng gì, thể chế nào và cơ chế đo lường - chấm dứt - nhân rộng ra sao.

Bối cảnh 2021-2026 làm thay đổi sâu sắc bài toán trên. Thứ nhất, tái cấu trúc chuỗi cung ứng sau đại dịch, cạnh tranh địa kinh tế và chính sách công nghiệp mới làm tăng nhu cầu về các điểm đến có hạ tầng tin cậy, năng lượng ổn định, thủ tục nhanh và khả năng chống chịu. Thứ hai, thuế tối thiểu toàn cầu với mức thuế suất hiệu dụng tối thiểu 15% đối với các tập đoàn thuộc phạm vi áp dụng làm suy giảm tương đối lợi thế của chiến lược cạnh tranh bằng thuế suất danh nghĩa rất thấp, khiến các quốc gia phải chuyển sang hỗ trợ có mục tiêu cho nghiên cứu - phát triển, đào tạo, hạ tầng và hoạt động tạo giá trị thực (OECD, 2026a). Thứ ba, yêu cầu khử cacbon, truy xuất nguồn gốc, an ninh dữ liệu và quản trị chuỗi cung ứng buộc đặc khu phải trở thành hệ sinh thái xanh - số thay vì chỉ là khu công nghiệp có hàng rào hải quan (UNCTAD, 2024).

Đối với Việt Nam, giai đoạn này đặc biệt đáng chú ý bởi quá trình chuyển dịch từ hệ thống khu công nghiệp, khu kinh tế truyền thống sang các mô hình có cường độ thể chế cao hơn. Nghị định số 35/2022/NĐ-CP tiếp tục là khung quản lý quan trọng đối với khu công nghiệp và khu kinh tế (Chính phủ, 2022). Từ năm 2024-2026, nhiều cơ chế mới đồng thời xuất hiện: thí điểm Khu thương mại tự do tại Đà Nẵng và mở rộng cơ chế năm 2025; cơ chế đặc thù cho Hải Phòng có nội dung về Khu thương mại tự do; Nghị quyết về Trung tâm tài chính quốc tế; các cơ chế đặc biệt cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; Quỹ Hỗ trợ đầu tư trong bối cảnh thuế tối thiểu toàn cầu; và đặc biệt là Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08/6/2026 chuyển trọng tâm từ thu hút vốn sang phát triển hệ sinh thái kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (Bộ Chính trị, 2026; Chính phủ, 2024; Quốc hội, 2024; Quốc hội, 2025b; Quốc hội, 2025c; Quốc hội, 2025d; Quốc hội, 2025e).

Thông tin chi tiết bài viết tại đây