Chính sách phát triển dịch vụ logistics Việt Nam: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện

10:47 - 10/06/2026

ThS. Phạm Hoàng Anh, Trường Đại học Thủy lợi

Tóm tắt: Logistics là một cấu phần quan trọng của năng lực cạnh tranh quốc gia, bởi nó kết nối sản xuất, lưu thông, xuất nhập khẩu và tiêu dùng trong một chuỗi vận hành thống nhất. Tại Việt Nam, dịch vụ logistics chỉ được định danh chính thức trong Luật Thương mại năm 2005 nhưng đến nay khuôn khổ chính sách đã mở rộng sang nhiều lĩnh vực như giao thông vận tải, hải quan, thương mại điện tử, ngoại thương, chuyển đổi số và phát triển hạ tầng. Bài viết phân tích quá trình hình thành khung pháp lý về logistics, làm rõ tác động của các cam kết WTO và ASEAN đối với mở cửa thị trường, đồng thời đánh giá những chính sách mới trong giai đoạn 2024-2025, đặc biệt là chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025-2035, tầm nhìn đến năm 2050. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện thể chế, đồng bộ hóa quy hoạch hạ tầng, thúc đẩy logistics số, logistics xanh và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.

Từ khóa: logistics, chính sách logistics, khung pháp lý, hạ tầng logistics, chuyển đổi số, logistics xanh, Việt Nam

1. Đặt vấn đề

Trong nền kinh tế mở, logistics không chỉ là dịch vụ hậu cần cho hoạt động vận chuyển hàng hóa mà còn là hệ thống tổ chức dòng hàng, dòng thông tin và dòng tiền tệ giữa các chủ thể trong chuỗi cung ứng. Một hệ thống logistics hiệu quả giúp giảm chi phí lưu thông, rút ngắn thời gian giao hàng, nâng cao độ tin cậy của thương mại quốc tế và cải thiện năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Ngược lại, khi hạ tầng kết nối yếu, thủ tục hành chính chậm, quy định pháp luật thiếu đồng bộ và doanh nghiệp dịch vụ có quy mô nhỏ, logistics có thể trở thành điểm nghẽn của tăng trưởng.

Ở Việt Nam, vai trò của logistics ngày càng được nhìn nhận rõ hơn trong chính sách phát triển kinh tế. Tuy nhiên, hệ thống chính sách còn phân tán ở nhiều luật, nghị định, quyết định quy hoạch và văn bản điều hành khác nhau. Sự phân tán này phản ánh đúng tính liên ngành của logistics nhưng cũng làm phát sinh tình trạng khó phối hợp, khó xác định đầu mối chịu trách nhiệm và khó triển khai chính sách trên thực tế. Vì vậy, hoàn thiện chính sách phát triển dịch vụ logistics cần được tiếp cận như một nhiệm vụ cải cách thể chế, không chỉ là vấn đề kỹ thuật của riêng ngành giao thông hay thương mại.

Từ ngày 01/03/2025, cơ cấu tổ chức Chính phủ được sắp xếp lại đã làm thay đổi một số đầu mối thực thi chính sách logistics. Chức năng về giao thông vận tải và hạ tầng giao thông hiện gắn với Bộ Xây dựng; hải quan thuộc Bộ Tài chính và Cục Hải quan; nhiệm vụ chuyển đổi số và công nghệ thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ. Sự thay đổi này đòi hỏi cơ chế phối hợp liên ngành mới, rõ trách nhiệm hơn giữa các bộ, ngành và địa phương.

2. Khung pháp lý điều chỉnh hoạt động logistics ở Việt Nam

2.1. Luật Thương mại 2005 và sự định danh pháp lý của dịch vụ logistics

Hoạt động logistics đã tồn tại ở Việt Nam từ lâu dưới nhiều hình thức như vận tải, giao nhận, kho bãi, thông quan, đóng gói, gom hàng và phân phối. Tuy nhiên, phải đến Luật Thương mại năm 2005, thuật ngữ “dịch vụ logistics” mới được ghi nhận chính thức trong hệ thống pháp luật. Theo Điều 233 Luật Thương mại 2005, dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, trong đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao. Các công đoạn này bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng và các dịch vụ liên quan khác.

Các quy định về dịch vụ logistics trong Luật Thương mại 2005 tập trung tại Mục 4, từ Điều 233 đến Điều 240. Nội dung chủ yếu bao gồm khái niệm dịch vụ logistics, điều kiện kinh doanh, quyền và nghĩa vụ của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics, quyền và nghĩa vụ của khách hàng, các trường hợp miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm. Đây là bước ngoặt quan trọng vì lần đầu tiên logistics được thừa nhận là một hành vi thương mại độc lập, có chủ thể cung ứng, khách hàng, trách nhiệm pháp lý và cơ chế giới hạn trách nhiệm.

Dù vậy, Luật Thương mại 2005 đến nay vẫn bộc lộ nhiều hạn chế. Luật chưa phân biệt thật rõ giữa logistics với dịch vụ logistics, giữa quản trị logistics trong doanh nghiệp với quản lý nhà nước về logistics cũng như giữa hạ tầng logistics với dịch vụ hỗ trợ vận tải. Trong bối cảnh thương mại điện tử, logistics xuyên biên giới, chứng từ điện tử và logistics xanh phát triển nhanh, các quy định hiện hành chưa đủ bao quát những mô hình dịch vụ mới. Đây là lý do cần tiếp tục rà soát, sửa đổi phần quy định về dịch vụ logistics trong Luật Thương mại, đồng thời hoàn thiện các nghị định hướng dẫn theo hướng cụ thể hơn, thống nhất hơn và dễ thực thi hơn.

Thông tin bài viết tại đây