
Vai trò của ngân hàng trong quá trình tái cơ cấu thương mại ở nước ta
16:26 - 06/08/2026
Lê Quang Trường
Biotech Group Việt Nam
Tóm tắt: Trong quá trình tái cơ cấu thương mại, hệ thống ngân hàng Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong quản lý nhà nước (đối với ngân hàng nhà nước) và phân bổ nguồn vốn, hỗ trợ doanh nghiệp chuyển dịch cơ cấu xuất nhập khẩu và nâng cao năng lực cạnh tranh (ngân hàng thương mại). Thông qua các hoạt động tín dụng, tài trợ thương mại, bảo lãnh thanh toán, thanh toán quốc tế và cung cấp các sản phẩm quản trị rủi ro tỷ giá, ngân hàng tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp mở rộng thị trường, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu và thích ứng với những biến động của thương mại quốc tế. Bên cạnh đó, việc thúc đẩy chuyển đổi số, phát triển tài chính xanh và ưu tiên tín dụng cho các ngành kinh doanh thương mại có giá trị gia tăng cao đã góp phần hỗ trợ quá trình chuyển dịch cơ cấu thương mại theo hướng bền vững. Nhờ đó, hệ thống ngân hàng không chỉ là kênh cung ứng vốn chủ lực mà còn là động lực quan trọng thúc đẩy tái cơ cấu thương mại, nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam.
Từ khóa: ngân hàng; tái cơ cấu; thương mại; tín dụng.
1. Hệ thống ngân hàng và quá trình tái cơ cấu thương mại
1.1. Một số kết quả đạt được
Trong giai đoạn 2020-2025, trước bối cảnh tình hình kinh tế thế giới và trong nước có nhiều biến động nhanh, phức tạp và khó đoán định, ngành Ngân hàng đã quyết liệt hành động, thực thi các giải pháp chiến lược và tác nghiệp (điều hành lãi suất hợp lý, cơ chế tỷ giá linh hoạt, chính sách tiền tệ phù hợp với thực tế, chính sách tín dụng hỗ trợ người dân, cộng đồng doanh nghiệp khôi phục, phát triển sản xuất kinh doanh kịp thời ban hành và triển khai khẩn trương, đồng bộ…) đã góp phần tích cực vào quá trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, kiểm soát lạm phát nhưng vẫn đảm bảo thanh khoản và sự phát triển an toàn của hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD).
Thương mại đang phát triển trong mối quan hệ biện chứng với công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, với quá trình tái cơ cấu gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng của nền kinh tế, của các ngành, các lĩnh vực, các vùng lãnh thổ và mỗi doanh nghiệp (DN). Đến nay, chúng ta đã tham gia 20 hiệp định thương mại tự do (FTA), bao gồm 18 FTA đã ký kết (trong đó 17 FTA đã có hiệu lực thực thi) với trên 60 đối tác, vừa kết thúc đàm phán FTA với Hiệp hội Thương mại Tự do châu Âu (EFTA), và đang đàm phán 01 FTA. Việt Nam - một trong những nền kinh tế có độ mở lớn, đang có điều kiện thuận lợi mở rộng tiếp cận các thị trường, kết nối và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Tuy nhiên, thương mại đa phương với những nguyên tắc cơ bản đã được định hình đang phải đối mặt với thách thức nảy sinh từ quan điểm dân tộc và chủ nghĩa bảo hộ. Nhìn tổng thể, thách thức lớn nhất, vấn đề nan giải mà các FTA đặt ra chính là sức ép cạnh tranh với toàn bộ nền kinh tế, doanh nghiệp và hàng hóa.
Hiện nay, nhu cầu vay vốn đang ngày càng gia tăng trong các lĩnh vực kinh doanh thương mại. Tín dụng cho các hoạt động thương mại (bán buôn, bán lẻ, xuất nhập khẩu, dịch vụ logistics…) được nhiều TCTD xác định là một trong những động lực tăng trưởng tín dụng. Những xu hướng này cho thấy tín dụng của các ngân hàng đang gắn chặt với sự phục hồi và mở rộng sản xuất kinh doanh
Trong quá trình tái cơ cấu thương mại, hệ thống ngân hàng đã có vai trò, tác động không nhỏ, thể hiện rõ nét trên các khía cạnh sau:
(i) Cung cấp dịch vụ tín dụng phục vụ tái cơ cấu. Các loại dịch vụ được ngân hàng cung ứng gồm cho vay hoặc bảo lãnh cho các khoản vay dự án, chương trình hoặc từng hợp đồng xuất- nhập khẩu, đầu tư, nhập khẩu thiết bị, mua sắm nguyên nhiên vật liệu, trang bị dây chuyền công nghệ sản xuất - kinh doanh, phát triển sản phẩm, dịch vụ mới. Nguồn vốn này góp phần quan trọng làm thay đổi cơ cấu sản xuất, trực tiếp là cơ cấu vốn và lao động, theo đó tạo biến đổi về cơ cấu sản phẩm, dịch vụ cung ứng ra thị trường.
(ii) Thực hiện chính sách tiền tệ theo hướng duy trì và cải thiện tình hình xuất nhập khẩu.
Các ngân hàng thương mại hiện đều đã và đang triển khai các gói cho vay xuất nhập khẩu nhằm: Đảm bảo tốt nhất nhu cầu vốn bằng VND hoặc ngoại tệ để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu. Chính sách tín dụng cho vay ngắn hạn bằng tiền đồng với lãi suất không quá 4%/năm. Qua đó tạo điều kiện cho doanh nghiệp, tiếp cận thuận lợi nguồn vốn, với chi phí hợp lý, để nâng cao khả năng cạnh tranh; Đáp ứng nhu cầu dịch vụ ngân hàng cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu, các hoạt động dịch vụ thanh toán, chuyển tiền, bảo lãnh, bao thanh toán... Qua đó, không chỉ tạo điều kiện thuận lợi trong hoạt động sản xuất kinh doanh, mua bán và thanh toán hàng hóa trong nước và quốc tế, mà còn góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho doanh nghiệp và Thực hiện tốt cơ chế chính sách tiền tệ tín dụng, lãi suất, tỷ giá và hoạt động ngoại hối. Cải cách hành chính, nâng cao chất lượng dịch vụ, chất lượng phục vụ khách hàng, đổi mới quy trình giao dịch nhằm góp phần tạo lập và củng cố môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi.
Trong giai đoạn 2020-2022, với tác động rất lớn của đại dịch Covid- 19, việc thực hiện chính sách tài khóa - tiền tệ nới lỏng, tăng tổng cầu với chính sánh ưu đãi lãi suất 2%, miễn, giảm, hoãn nộp thuế với tổng giá trị khoản hỗ trợ 347 ngàn tỷ đồng Việt Nam theo Nghị quyết 43 của Quốc hội (Quốc hội 15, 2022), giảm sâu lãi suất, tái cơ cấu nợ khoản vay góp phần duy trì cả tái cơ cấu thương mại theo hướng vừa duy trì quan hệ với khách hàng truyền thống vừa tìm kiếm khách hàng mới. Đây là giai đoạn có sự điều chỉnh cơ cấu thương mại theo hướng lựa chọn hay thay đổi cơ cấu đối tác theo hướng giảm thiểu đứt gãy chuỗi cung ứng và xây dựng chuỗi cung ứng mới, Đây cũng là giai đoạn xuất hiện trạng thái chuyển đổi xanh, thử nghiệm áp dụng cơ chế điều chỉnh biên giới các- bon (CBAM) của Liên minh châu Âu (EU). Ngân hàng cố gắng áp dụng cơ chế tín dụng xanh và thử nghiệm cơ chế trái phiếu xanh để hướng tới mô hình ngân hàng xanh (Phan Chung Thủy, 2024).
Các ngân hàng thương mại thường áp dụng cấp hạn mức cho các các doanh nghiệp xuất nhập khẩu với nhu cầu vay vốn ngắn hạn, quay vòng nhanh. Năm 2025, nhiều ngân hàng đã triển khai các gói cho vay xuất nhập khẩu với tổng vốn lớn như VietinBank, Vietcombank, BIDV, Agribank, ACB, HDBank, Eximbank, MSB, MBB, VPBank, Techcombank, SHB, OCB... đi kèm các ưu đãi đặc biệt, thậm chí có ngân hàng cho vay thấp sâu hơn dưới mức lãi suất chính sách “không quá 4%”, đi kèm là đơn giản hóa quy trình, thủ tục cũng như triển khai song song các giải pháp tài chính linh hoạt, phù với với đặc thù từng loại hình và quy mô doanh nghiệp. Tuy nhiên, vẫn có nhiều trường hợp doanh nghiệp xuất nhập khẩu không đủ điều kiện nên khó tiếp cận vốn với lãi suất ưu đãi này (phải vay từ trên 7%/năm). Về cán cân thương mại dịch vụ, trong 20 năm liên tiếp, từ năm 2005 đến 2025, cán cân thương mại dịch vụ thường xuyên bị thâm hụt. Năm 2021 có mức thâm hụt lớn nhất 15,425 tỷ đô-la Mỹ và năm 2006 có mức thâm hụt thấp nhất 22 triệu đô-la Mỹ. Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu dịch vụ đạt 30,3 tỷ USD, tăng 18,8% so với năm trước. Kim ngạch nhập khẩu dịch vụ đạt 40,6 tỷ USD, tăng 16% so với năm trước. Nhập siêu dịch vụ năm 2025 là 10,3 tỷ USD. Điều này cho thấy thương mại dịch vụ chưa cân đối với cán cân thương mại hàng hóa có xu hướng thặng dư liên tiếp.
(iii) Tham gia tích cực, chủ động hoàn thiện luật pháp, chính sách tái cơ cấu thương mại. Quá trình hoàn thiện luật pháp, chính sách để tái cơ cấu thương mại gắn với việc thực hiện ba đột phá chiến lược. Ngân hàng là cơ quan quản lý nhà nước về ngân hàng luôn phối hợp chặt chẽ để hoàn thiện các loại quy định pháp luật, chính sách này. Chẳng hạn, khi xây dựng Chiến lược xuất- nhập khẩu hàng hóa Việt Nam đến năm 2030, với vai trò chủ trì là Bộ Công Thương, nhưng cần có ý kiến tham gia góp ý của ngân hàng để khẳng định vai trò ngân hàng trong bảo đảm điều kiện thực hiện chiến lược nhằm vừa đạt mục tiêu tăng trưởng, vừa đạt mục tiêu tái cơ cấu. Việc xây dựng và thông qua Đề án tái cơ cấu ngành Công Thương đến năm 2030, cũng có vai trò và sự tham gia của ngân hàng trong xây dựng khuôn khổ phục vụ của ngân hàng vào thực hiện tái cơ cấu thương mại thông qua huy động nguồn vốn tịn dụng, đầu tư và các điều chỉnh bảo lãnh, cho vay, hỗ trợ. Bên cạnh đó, việc hoàn thiện Luật các tổ chức tín dụng (Quốc hội khóa XV, 2024) với vai trò chủ yếu và trực tiếp chủ trì của ngân hàng, các quy định về giao dịch tín dụng được minh bạch hóa, góp phần tái cơ cấu thương mại theo nguyên tắc tự do, minh bạch, công bằng và bền vững, tạo khả năng tiếp cận nguồn tín dụng ngân hàng bình đẳng giữa các chủ thể thương mại.
(iv) Phát triển hạ tầng thương mại. Hạ tầng đóng vai trò hỗ trợ bền vững cho chiến lược tái cơ cấu thương mại, trong đó có phát triển kết cấu hạ tầng thương mại như (chợ, trung tâm thương mại, siêu thị, kho bãi, trung tâm logistics…) và cơ chế vận hành hệ thống này. Ngân hàng đóng vai trò cung ứng nguồn tín dụng để đầu tư phát triển hạ tầng này đồng bộ, hiện đại, thông minh, bền vững và có khả năng kết nối rộng rãi và hiệu quả với đối tác trong nước và quốc tế. Chẳng hạn các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu cần vốn đầu tư để chuyển đổi năng lượng, cải thiện hệ thống nhà xưởng để sản xuất các loại hàng hóa đáp ứng tiêu chuẩn xanh. Đồng thời, để số hóa và chuyển đổi số thương mại, các chủ thể cần đầu tư nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin, kết nối với các nền tảng thương mại toàn cầu như như Amazon.com, Facebook, Zalo và các nền tảng đối tác quốc tế và quốc gia như Wechat, Lazada…để tận dụng triệt để hạ tầng thương mại điện tử nhằm mở rộng quy mô giao dịch, tiết kiệm chi phí, tăng tốc giao dịch và thu lợi nhuận đáng kể.
Ngân hàng Nhà nước đã sử dụng rất nhiều công cụ như điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng, quy định biên độ xác định tỷ giá, mua bán trên thị trường ngoại hối…nhằm cải thiện sức cạnh tranh thương mại quốc tế cho hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam. Trong điều hành, trên cơ sở bám sát diễn biến thị trường trong và ngoài nước, Ngân hàng Nhà nước đã chủ động, kịp thời thực hiện các biện pháp ổn định thị trường.Từ việc triển khai đồng bộ các giải pháp, thị trường ngoại tệ trong nước diễn biến ổn định hơn so với mức độ biến động khá lớn của các nước trên thế giới và trong khu vực.
(v) Góp phần thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế xanh.
Tại Việt Nam, khung pháp lý chuyên ngành về tín dụng xanh đã được Ngân hàng Nhà nước chính thức khởi động từ khá sớm, với một số văn bản chỉ đạo có tính nền tảng như Chỉ thị 03/CT-NHNN 2015 về thúc đẩy tăng trưởng tín dụng xanh, quản lý rủi ro môi trường và xã hội trong hoạt động cấp tín dụng; Quyết định 1604/QĐ-NHNN 2018 phê duyệt Đề án phát triển ngân hàng xanh; Thông tư 17/TT-NHNN 2022 hướng dẫn thực hiện quản lý rủi ro về môi trường trong hoạt động cấp tín dụng. Việc triển khai đồng bộ các giải pháp của Chính phủ và Ngân hàng Trung ương, trong đó có Quyết định 21/2025/TTg về phân loại danh mục xanh, đã tạo hành lang pháp lý thuận lợi để thúc đẩy tín dụng xanh. Hệ thống ngân hàng đang hỗ trợ doanh nghiệp thông qua hai phương thức chính. Thứ nhất là cung cấp trực tiếp nguồn vốn cho các dự án phát triển xanh, sản xuất sạch, giúp doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ và nâng cao hiệu quả hoạt động. Thứ hai là sử dụng các công cụ chính sách như một nguồn lực định hướng, qua đó điều tiết dòng vốn vào các lĩnh vực ưu tiên, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp trong lộ trình chuyển đổi sang mô hình phát triển bền vững. Điểm nhấn đáng chú ý nhất là cơ chế cho phép doanh nghiệp được vay tới 70% tổng mức đầu tư dự án mà không cần phải có tài sản đảm bảo, được xem là “đột phá” và là sự hỗ trợ thiết thực nhất cho các doanh nghiệp.
Có thể thấy sự tham gia của ngân hàng vào quá trình tái cơ cấu thương mại trong những năm qua đã góp phần quan trọng để cơ cấu thương mại có sự chuyển dịch tích cực, đúng hướng và có chiếu hướng bứt phá so với giai đoạn trước. Cả ngân hàng và lĩnh vực thương mại đều có bước phát triển vượt bậc. Đó là kết quả của việc nhận thức phù hợp và hành động hiệu quả giữa ngân hàng và lĩnh vực thương mại trực tiếp là quan hệ giữa các chủ thể có liên quan.
1.2. Hạn chế và nguyên nhân
- Việt Nam chưa tạo lập được cơ cấu thương mại với tỷ trọng cao hàng hóa có hàm lượng công nghệ như kỳ vọng. Lợi thế để phát triển ngân hàng Việt Nam từ lợi thế của tái cơ cấu thương mại chưa được tận dụng triệt để.
- Tăng cường năng lực phân tích, tham mưu kịp thời, ứng phó linh hoạt với diễn biến tình hình quốc tế, trong nước, thúc đẩy mạnh mẽ chuyển đổi số gắn với nâng cao chất lượng dịch vụ, bảo đảm an ninh, an toàn…vẫn là những vấn đề mang tính “thời sự” trong thời gian tới.
- Phối hợp liên ngành giữa NHNN, các Hiệp hội, Ngân hàng thương mại và các Bộ, Ngành cũng như doanh nghiệp trong thực thi đồng bộ, nhịp nhàng các chính sách, quy định, cung cấp, xử lý thông tin…cũng là những nội dung cần phải cải tiến mạnh mẽ.
- Nguồn lực trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng… còn chứa đựng nhiều rủi ro, chưa bền vững, cơ cấu chưa hợp lý, chưa đáp ứng được chuẩn mực quốc tế và yêu cầu phát triển mới. Sự thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao đang gây áp lực lớn do nhu cầu về lao động kỹ thuật số tăng nhanh, trong khi hệ thống đào tạo chưa đáp ứng kịp.
2. Một số giải pháp cho thời gian tới
Trên cơ sở nền tảng các kết quả đạt được, để đẩy mạnh sự tham gia của ngân hàng vào quá trình tái cơ cấu thương mại, cần áp dụng đồng bộ các biện pháp sau đây:
- Xây dựng, bổ sung chương trình, kế hoạch hành động trong đề án tái cơ cấu thương mại phù hợp với yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế được đặt ra trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội quốc gia làm định hướng tham gia tối ưu của ngân hàng
Dựa vào Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa đến năm 2030 và Đề án tái cơ cấu ngành Công Thương đến năm 2030, các cơ quan quản lý nhà nước trong ngành sẽ định hướng, xây dựng, bổ sung chương trình, kế hoạch hành động như lựa chọn mặt hàng phù hợp định hướng chiến lược, tổ chức sản xuất, huy động và phát huy nguồn lực về công nghệ, nhân lực và đặc biệt là nguồn vốn tự có, xã hội hoặc nguồn vốn vay từ ngân hàng để thực hiện chiến lược đặt ra. Kế hoạch vay vốn, giải ngân hay rộng hơn là chiến lược tạo nguồn tài chính lấy ngân hàng làm chỗ dựa chủ yếu để thực hiện kế hoạch và chiến lược. Đây là cơ hội lớn để ngân hàng phát huy vai trò không thể thay thế trong hệ thống cung ứng nguồn lực tài chính và dịch vụ ngân hàng hiệu quả tới các doanh nghiệp thương mại. Chính phủ cần thành lập Quỹ Bảo lãnh tín dụng quốc gia, có vốn điều lệ lớn, phạm vi hoạt động trên toàn quốc, để hỗ trợ mạnh mẽ hơn các doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong đó có doanh nghiệp xuất khẩu. Ngân hàng Nhà nước nghiên cứu xây dựng tổ hợp tín dụng của nhiều ngân hàng với một ngân quỹ đủ lớn để hỗ trợ cho các doanh nghiệp xuất khẩu.
-. Điều chỉnh chức năng và tăng cường vai trò chủ động, tích cực của ngân hàng trong tham gia tái cơ cấu thương mại
Ngân hàng xây dựng các gói cho vay như cho vay tái cơ cấu thương mại, cho vay chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn trong thương mại, bảo hiểm nông sản xuất khẩu. Đồng thời với việc điều chỉnh chức năng này là việc cải thiện năng lực cạnh tranh của ngân hàng trong tiếp cận và cung ứng dịch vụ tín dụng theo dự án, chương trình, công trình, hợp đồng, đối tác để cơ hội xuất hiện từ tái cơ cấu không bị rơi vào ngân hàng nước ngoài.
- Khuyến khích và xây dựng mạng lưới kết nối trực tiếp nguồn lực (thế mạnh kinh nghiệm, uy tín, danh tiếng, tư vấn…) của ngân hàng, chi nhánh/phòng giao dịch với các doanh nghiệp thương mại nhằm phát triển kinh doanh các mặt hàng hoặc dịch vụ có giá trị gia tăng cao, có khả năng thu lợi nhuận lớn ở phạm vi quốc gia, vùng, địa phương có lợi thế so sánh, lợi thế cạnh tranh và lợi thế quy mô
Việc kết nối này có thể thực hiện dưới nhiều phương thức khác nhau như cho phép lực lượng ngân hàng tham gia trực tiếp vào xây dựng chiến lược và kế hoạch thúc đẩy tái cơ cấu thương mại của doanh nghiệp. Mạng lưới này có thể thực hiện đa dạng như mạng lưới kết nối theo mặt hàng, thị trường, chủng loại công nghệ, khai thác vai trò của các hiệp hội và sử dụng nền tảng ứng dụng như Facebook, Zalo, Email hoặc các nền tảng khác để kết nối với phạm vi lớn nhất và tốc độ nhanh nhất.
- Tiếp tục đẩy mạnh quá trình chuyển đổi số để gia tăng khả năng tham gia sâu của ngân hàng vào quá trình tái cơ cấu thương mại
Chuyển đổi số cần thực hiện đồng bộ và thống nhất để hình thành nền tảng trực tuyến kết nối trong ngân hàng nhằm tăng khả năng tiếp cận kịp thời khách hàng. Việc đầu tư nâng câp nền tảng trực tuyến ngành đồng bộ hóa với nền tảng khác và dịch vụ công trực tuyến quốc gia để bắt kịp xu hướng chuyển đổi số cần được thực hiện quyết liệt gắn với tiến bộ công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI).
- Thực hiện chính sách tiền tệ nhằm mở rộng quy mô và cải thiện cơ cấu thương mại phù hợp xu hướng chuyển đổi xanh, chuyển dịch năng lượng và giảm phát thải ròng về 0 đến năm 2050 theo cam kết quốc tế
Thực tiễn cho thấy rào cản lớn nhất của tín dụng xanh hiện nay là bài toán nguồn vốn trung và dài hạn. Nếu không có các chính sách hỗ trợ ổn định, dài hạn từ Nhà nước, việc mở rộng tín dụng cho các lĩnh vực xanh sẽ đặt ngân hàng vào thế rủi ro cao hơn so với các khoản vay truyền thống. Nhiều TCTD dù quan tâm nhưng vẫn dè dặt trong việc đẩy mạnh cho vay xanh. Trên cơ sở chủ trương và cơ chế hỗ trợ tái cơ cấu thương mại, hệ thống ngân hàng cần có kế hoạch triển khai nhanh việc hướng dẫn soạn thảo hồ sơ, thẩm định và giải ngân nhanh nhất các khoản hỗ trợ để doanh nghiệp thực hiện việc tái cơ cấu thương mại tối ưu. Ở khía cạnh này, ngân hàng phải là tác nhân thúc đẩy dòng chảy nguồn vốn đầy đủ, nhanh chóng, kịp thời. Cần loại bỏ sự trùng lập giữa các khâu công việc để tạo ra được quy trình xử lý thủ tục khoản vay hiệu quả nhất. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần thúc đẩy triển khai nhanh các công cụ tài chính xanh, tín dụng xanh, trái phiếu xanh, xây dựng cơ chế chia sẻ rủi ro và tài chính hỗn hợp nhằm khơi thông, huy động mạnh mẽ nguồn lực xã hội cho chuyển đổi xanh. Cần có chiến lược tổng thể để phát triển thị trường tài chính xanh một cách hài hòa, hiệu quả giữa các kênh dẫn vốn, gắn với các định hướng, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Theo đó, các chính sách liên quan đến thị trường tài chính xanh cần sớm được ban hành hoặc lồng ghép với những chính sách về tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn, chuyển đổi năng lượng và ứng phó biển đổi khí hậu... Cùng với đó là có cơ chế thu hút nguồn vốn cho đầu tư xanh bằng chính sách miễn giảm thuế, phí, lệ phí, lãi suất và hỗ trợ các chi phí liên quan đến phát hành trái phiếu xanh, cung cấp tín dụng xanh. Hệ thống tài chính xanh cần được “mở khóa” bằng những gói tín dụng quy mô nhỏ, lãi suất ưu đãi, thủ tục đơn giản giúp doanh nghiệp dễ tiếp cận; xây dựng nền tảng dữ liệu ESG quốc gia dùng chung...
- Xử lý tốt vấn đề tỷ giá nhằm cải thiện trạng thái của cán cân thương mại
Trong thời gian tới, NHNN cần tăng cường tính linh hoạt của tỷ giá hối đoái trong giới hạn ổn định cho phép với việc áp dụng chính sách tỷ giá thả nổi có điều tiết. Việc điều chỉnh tỷ giá nên thực hiện thường xuyên để tránh những sự điều chỉnh với biên độ lớn, gây ra cú sốc cho nền kinh tế. Việc điều tiết tỷ giá hối đoái theo hướng nới lỏng sự can thiệp của NHNN cần thực hiện đồng bộ với các chính sách kinh tế vĩ mô khác như chính sách thương mại, chính sách vay nợ nước ngoài, chính sách quản lý dự trữ ngoại hối.
Bên cạnh đó, cần thực hiện điều chỉnh nới lỏng tỷ giá hối đoái theo phương pháp thử và sửa. Trước, trong và sau khi điều chỉnh tỷ giá cần có những khảo sát đánh giá tác động của những điều chỉnh tỷ giá đó tới nền kinh tế cũng như từng doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu để hạn chế những tác động tiêu cực, lựa chọn mức độ điều chỉnh sao cho có lợi nhất cho cả doanh nghiệp và nền kinh tế. Cần xác địch mục đích can thiệp, thời gian và khối lượng can thiệp bằng cách sử dụng các mô hình kinh tế lượng để tính toán và đưa ra dự báo để việc điều tiết trở nên chủ động tránh rơi vào thế bị động đi theo sau thị trường. Về mục đích can thiệp đó là điều chỉnh sự mất cân bằng của tỷ giá so với cân bằng dài hạn, bình ổn thị trường ngoại hối, tích luỹ dự trữ ngoại hối. Chính sách tỷ giá trong dài hạn cần hướng đến sự ổn định thị trường ngoại hối, tỷ giá hối đoái được xác lập sát với quan hệ cung, cầu ngoại hối trên thị trường. Bên cạnh đó cần tăng cường tính minh bạch về thông tin các giao dịch ngoại hối nhằm giúp các chủ thể trong nền kinh tế có thể dự báo được sự biến động của tỷ giá, đưa ra các quyết định đúng trong các giao dịch ngoại hối./.
Tài liệu tham khảo
- Báo cáo Tổng kết ngành Công Thương các năm 2020-2025
- Báo cáo Tổng kết ngành Ngân hàng các năm 2020-2025
- Quốc hội 15 (2024), Luật số 32/2024/QH15, Luật Các tổ chức tín dụng, https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-luat-cac-to-chuc-tin-dung-119240405135841794.htm.
- Quốc hội 15 (2022), Nghị quyết 43/2022/QH15, Nghị quyết về Chính sách tài khóa- tiền tệ hỗ trợ Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế- xã hội, https://datafiles.chinhphu.vn/cpp/files/vbpq/2022/01/43-qh.signed.pdf.
- Thủ tướng Chính phủ (2023), Số 165/QĐ-TTg ngày 28/2/2023 về “Phê duyệt đề án tái cơ cấu ngành công thương giai đoạn đến năm 2030”.
- Thủ tướng Chính phủ (2022), Số 493/QĐ-TTg ngày 19/4/2022 về “Phê duyệt Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa đến năm 2030”, https://datafiles.chinhphu.vn/cpp/files/vbpq/2022/04/493-ttg.signed.pdf.
- Thủ tướng Chính phủ (2021), Số 1658/QĐ-TTg, ngày 1/10/2021 Quyết định phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2050, https://datafiles.chinhphu.vn/cpp/files/vbpq/2021/10/1658.signed.pdf.
- Thủ tướng Chính phủ (2018), Số 968/QĐ-TTg ngày 18/8/2018 về “Phê duyệt Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”.
- Phan Chung Thủy (2024), Phát triển ngân hàng xanh nhằm tạo động lực cho phát triển bền vững ở Việt Nam, https://www.sbv.gov.vn/webcenter/portal/vi/menu/fm/ddnhnn/nctd/nctd_.
THE ROLE OF BANKS IN VIETNAM'S TRADE RESTRUCTURING PROCESS
Le Quang Truong
This study examines the role of Vietnam's banking system in the country's trade restructuring process. The banking system plays a crucial role in facilitating trade restructuring, ranging from macro-level policy implementation by the State Bank of Vietnam to capital allocation and financial support provided by commercial banks. Through credit provision, trade finance, payment guarantees, international settlement services, and foreign exchange risk management, banks enable enterprises to diversify export markets, restructure import–export activities, strengthen competitiveness, and integrate more deeply into global value chains. In addition, the promotion of digital transformation, the expansion of green finance, and the prioritization of credit for high-value-added and export-oriented industries have accelerated the transition toward a more sustainable trade structure. As a result, the banking system serves not only as a major financial intermediary but also as a strategic driver of trade restructuring, contributing to enhanced international economic integration and sustainable economic growth in Vietnam.
Keywords: banking system; credit; trade restructuring; trade finance; Vietnam.
