
Phát triển đồng bộ nguồn điện và lưới điện nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư và vận hành hệ thống điện ở Việt Nam
12:21 - 29/07/2026
ThS. Nguyễn Đức Tùng
ThS. Trần Thị Hà My
ThS. Nguyễn Hồng Thơm
Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương
Tóm tắt: Trong bối cảnh nhu cầu điện năng tiếp tục tăng trưởng cao và quá trình chuyển dịch năng lượng diễn ra mạnh mẽ, Việt Nam đang đẩy nhanh phát triển các nguồn điện mới, đặc biệt là năng lượng tái tạo (NLTT). Tuy nhiên, thực tiễn phát triển hệ thống điện thời gian qua cho thấy nhiều dự án nguồn điện và lưới điện chưa được triển khai đồng bộ, dẫn đến tình trạng cắt giảm công suất phát điện, chậm đưa công trình vào khai thác, gia tăng chi phí đầu tư và làm giảm hiệu quả vận hành của toàn hệ thống. Bài báo phân tích thực trạng phát triển nguồn điện và lưới điện tại Việt Nam, làm rõ các nguyên nhân dẫn đến sự thiếu đồng bộ trong quy hoạch, đầu tư và vận hành hệ thống điện. Trên cơ sở đó, bài báo đề xuất một số giải pháp phát triển đồng bộ nguồn điện và lưới điện gồm: (i) đồng bộ quy hoạch và đầu tư; (ii) đồng bộ tổ chức triển khai và vận hành; (iii) đồng bộ cơ chế chính sách và tín hiệu kinh tế. Các giải pháp này không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư, tối ưu hóa khai thác tài sản lưới điện và nguồn điện mà còn tạo nền tảng cho quá trình chuyển dịch năng lượng bền vững, nâng cao khả năng tích hợp NLTT và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.
Từ khóa: nguồn điện, lưới điện truyền tải, vận hành hệ thống điện, chuyển dịch năng lượng.
1. Đặt vấn đề
Điện năng là hạ tầng thiết yếu, đóng vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. Trong bối cảnh nhu cầu điện của Việt Nam tiếp tục tăng cao cùng với mục tiêu đạt phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050, hệ thống điện đang bước vào giai đoạn chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng gia tăng tỷ trọng NLTT và các công nghệ lưu trữ năng lượng. Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, trong giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, Việt Nam sẽ tiếp tục đầu tư phát triển các nguồn điện mới và mở rộng hệ thống truyền tải nhằm đáp ứng nhu cầu phụ tải cũng như bảo đảm vận hành hệ thống điện an toàn, tin cậy.
Tuy nhiên, thực tiễn phát triển hệ thống điện trong thời gian qua cho thấy quá trình đầu tư nguồn điện và lưới điện chưa thực sự đồng bộ. Nhiều dự án điện gió, điện mặt trời sau khi hoàn thành phải cắt giảm công suất do lưới truyền tải chưa đáp ứng khả năng giải tỏa, trong khi một số công trình lưới điện được đầu tư trước nhưng các dự án nguồn điện liên quan lại chậm triển khai. Tình trạng này làm giảm hiệu quả khai thác tài sản, gia tăng chi phí đầu tư và ảnh hưởng đến hiệu quả vận hành của toàn hệ thống điện. Nguyên nhân của sự thiếu đồng bộ không chỉ xuất phát từ chênh lệch tiến độ đầu tư mà còn liên quan đến công tác quy hoạch, cơ chế phối hợp giữa các chủ thể tham gia, chính sách đầu tư và yêu cầu vận hành hệ thống điện trong bối cảnh tỷ trọng NLTTngày càng tăng.
Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về phát triển nguồn điện, lưới điện truyền tải và tích hợp NLTTnhưng các nghiên cứu phân tích mối quan hệ giữa phát triển nguồn điện và lưới điện dưới góc độ nâng cao hiệu quả đầu tư và vận hành hệ thống điện tại Việt Nam vẫn còn hạn chế. Vì vậy, bài báo tập trung phân tích những bất cập trong quá trình phát triển nguồn điện và lưới điện thời gian qua, đồng thời đề xuất một số giải pháp phát triển đồng bộ giữa hai hợp phần này nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư, tối ưu vận hành hệ thống điện bảo đảm an ninh năng lượng trong bối cảnh chuyển dịch năng lượng tại Việt Nam.
2. Thực trạng phát triển nguồn điện và lưới điện ở việt nam
2.1. Thực trạng phát triển nguồn điện
Trong hơn một thập kỷ qua, hệ thống điện Việt Nam đã có bước phát triển mạnh cả về quy mô công suất lắp đặt và cơ cấu nguồn điện nhằm đáp ứng nhu cầu điện năng tăng trưởng cao của nền kinh tế. Nếu như giai đoạn trước năm 2015, nguồn điện chủ yếu dựa vào thủy điện và nhiệt điện than thì từ năm 2019 đến nay, cơ cấu nguồn điện đã có sự chuyển dịch đáng kể theo hướng gia tăng tỷ trọng các nguồn NLTTvà đa dạng hóa các loại hình phát điện.
Đến cuối năm 2025, tổng công suất đặt của hệ thống điện Việt Nam đạt khoảng 87,6 GW, đưa Việt Nam trở thành một trong những quốc gia có quy mô hệ thống điện lớn nhất khu vực Đông Nam Á. Trong đó, nhiệt điện than vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất với khoảng 28,1 GW, tương đương 32,1% tổng công suất; thủy điện đạt khoảng 24,6 GW (28,1%); điện gió và điện mặt trời đạt gần 23,9 GW (27,3%); phần còn lại là điện khí, điện dầu, LNG, sinh khối, điện rác và các nguồn năng lượng khác.
Đặc biệt, giai đoạn 2019–2021 chứng kiến sự phát triển bùng nổ của điện mặt trời và điện gió nhờ cơ chế giá FIT. Chỉ trong vòng hơn hai năm, công suất điện mặt trời tăng từ 4.464 MW lên thành 16.420 MW vào năm 2021, đưa Việt Nam trở thành một trong những thị trường NLTTphát triển nhanh nhất thế giới. Tuy nhiên, sự tăng trưởng đột biến này cũng tạo ra áp lực rất lớn đối với hệ thống truyền tải điện do phần lớn các dự án tập trung tại khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, trong khi phụ tải lớn lại phân bố chủ yếu tại Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Hồng.
Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, cơ cấu nguồn điện trong thời gian tới sẽ tiếp tục chuyển dịch theo hướng giảm dần tỷ trọng nhiệt điện than, phát triển mạnh điện gió trên bờ, điện gió ngoài khơi, điện mặt trời, điện khí LNG và các hệ thống lưu trữ năng lượng. Điều này cho thấy quy mô đầu tư nguồn điện sẽ tiếp tục gia tăng trong những năm tới, đồng thời đặt ra yêu cầu rất lớn đối với việc mở rộng và hiện đại hóa hệ thống lưới điện truyền tải.
Tuy nhiên, thực tế triển khai các dự án nguồn điện cho thấy vẫn tồn tại nhiều bất cập. Một số dự án nhiệt điện và điện khí chậm tiến độ do khó khăn về huy động vốn, giải phóng mặt bằng và bảo đảm nguồn cung nhiên liệu. Đối với các dự án năng lượng tái tạo, mặc dù thời gian xây dựng tương đối ngắn, nhưng nhiều dự án sau khi hoàn thành không thể khai thác tối đa công suất do hạ tầng truyền tải chưa đáp ứng kịp. Điều này làm giảm hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp, kéo dài thời gian thu hồi vốn và làm suy giảm hiệu quả khai thác nguồn lực năng lượng tái tạo.
Nhìn chung, tốc độ phát triển nguồn điện trong thời gian qua nhanh hơn đáng kể so với tốc độ đầu tư hệ thống truyền tải điện. Đây là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng mất cân đối giữa năng lực phát điện và năng lực giải tỏa công suất tại nhiều khu vực.
2.2. Thực trạng phát triển lưới điện
Song song với quá trình phát triển nguồn điện, hệ thống lưới điện truyền tải Việt Nam cũng đã có những bước phát triển đáng kể nhằm đáp ứng yêu cầu truyền tải công suất giữa các vùng miền và bảo đảm vận hành an toàn hệ thống điện quốc gia. Đến nay, hệ thống truyền tải bao gồm mạng lưới đường dây và trạm biến áp 500 kV, 220 kV trải rộng trên cả nước, đóng vai trò là "xương sống" của hệ thống điện. Tính đến hết năm 2025, hệ thống lưới điện truyền tải có hơn 33.000 km đường dây, 217 trạm biến áp với tổng dung lượng máy trên 133.900 MVA. Đặc biệt, hệ thống đường dây 500 kV Bắc – Nam đã góp phần quan trọng trong việc truyền tải công suất từ các khu vực có nguồn điện dư thừa đến các trung tâm phụ tải lớn, nâng cao khả năng liên kết vùng và tăng cường độ ổn định của hệ thống điện. Những năm gần đây, nhiều dự án truyền tải quan trọng như đường dây 500 kV mạch 3 Quảng Trạch – Phố Nối, các tuyến 500 kV khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nam Bộ, cùng nhiều trạm biến áp 500 kV và 220 kV đã được đầu tư nhằm giải quyết tình trạng quá tải cục bộ và nâng cao năng lực truyền tải.
Tuy nhiên, tốc độ đầu tư lưới điện vẫn chưa theo kịp tốc độ phát triển nguồn điện. Một trong những nguyên nhân chủ yếu là thời gian chuẩn bị và triển khai các dự án truyền tải thường kéo dài hơn nhiều so với các dự án nguồn điện. Nếu một dự án điện mặt trời hoặc điện gió có thể hoàn thành trong khoảng 12–24 tháng thì một dự án đường dây truyền tải 500 kV thường mất từ 4–7 năm để hoàn thành do phải trải qua nhiều bước như quy hoạch, phê duyệt chủ trương đầu tư, thiết kế kỹ thuật, giải phóng mặt bằng và thi công xây dựng. Ngoài yếu tố thời gian, công tác đầu tư lưới điện còn gặp nhiều khó khăn liên quan đến cơ chế đầu tư, giải phóng mặt bằng và nguồn vốn. Phần lớn các dự án truyền tải vẫn do doanh nghiệp nhà nước thực hiện, trong khi nhu cầu vốn đầu tư ngày càng lớn. Cơ chế huy động khu vực tư nhân tham gia đầu tư lưới điện mặc dù đã có những thay đổi trong thời gian gần đây nhưng vẫn chưa phát huy hiệu quả trên thực tế. Một thách thức khác là sự thay đổi nhanh về phân bố nguồn điện. Trong khi nhiều dự án NLTT tập trung tại khu vực có tiềm năng tài nguyên thì phụ tải lại tập trung tại các vùng công nghiệp và đô thị lớn. Điều này làm gia tăng yêu cầu đầu tư các tuyến truyền tải liên vùng có quy mô lớn, đồng thời đòi hỏi hệ thống lưới điện phải có tính linh hoạt cao hơn để thích ứng với sự biến động của các nguồn năng lượng tái tạo.
Có thể thấy rằng, mặc dù hệ thống truyền tải điện đã được đầu tư đáng kể trong những năm gần đây, nhưng vẫn tồn tại khoảng cách giữa tốc độ phát triển nguồn điện và năng lực mở rộng lưới điện. Khoảng cách này là một trong những nguyên nhân làm giảm hiệu quả khai thác của cả nguồn điện và lưới điện.
2.3. Những bất cập trong phát triển đồng bộ nguồn điện và lưới điện truyền tải
Thực tiễn phát triển hệ thống điện Việt Nam thời gian qua cho thấy, bên cạnh những kết quả đạt được trong đầu tư phát triển nguồn điện và lưới điện, vẫn còn tồn tại những hạn chế về mức độ đồng bộ giữa hai hợp phần này trong quá trình quy hoạch, đầu tư và vận hành. Sự thiếu đồng bộ tại một số thời điểm và khu vực đã làm giảm hiệu quả khai thác nguồn điện và lưới điện, ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư và vận hành của toàn hệ thống điện.
Sự thiếu đồng bộ trước hết thể hiện ở khâu quy hoạch. Trong nhiều trường hợp, quy hoạch phát triển nguồn điện được điều chỉnh nhanh để đáp ứng nhu cầu đầu tư hoặc tận dụng tiềm năng tài nguyên, trong khi quy hoạch lưới điện chưa được cập nhật và triển khai tương ứng. Điển hình là trong quá trình thực hiện Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011–2020, có xét đến năm 2030 (Quy hoạch điện VII điều chỉnh), nhiều dự án điện mặt trời và điện gió đã được bổ sung quy hoạch nhằm tận dụng cơ chế khuyến khích phát triển năng lượng tái tạo, trong khi các dự án lưới điện truyền tải chưa được đầu tư đồng bộ. Kết quả là nhiều khu vực có tốc độ phát triển nguồn điện rất nhanh nhưng năng lực truyền tải không theo kịp, buộc hệ thống phải cắt giảm công suất phát điện trong thời gian dài.
Thứ hai, sự thiếu đồng bộ về tiến độ đầu tư là nguyên nhân phổ biến nhất. Một số dự án nguồn điện đã hoàn thành nhưng các công trình truyền tải liên quan chưa được đưa vào vận hành, khiến công suất phát điện không thể giải tỏa hết. Trường hợp Trung Nam Thuận Nam (Ninh Thuận) là ví dụ điển hình, khi nhà máy điện mặt trời hoàn thành trước hệ thống truyền tải, dẫn đến tình trạng cắt giảm công suất trong thời gian dài. Ngược lại, dự án đường dây 500 kV Long Phú – Ô Môn được đầu tư nhằm giải tỏa công suất cho Trung tâm Điện lực Long Phú và chuỗi dự án khí Lô B – Ô Môn, nhưng các nhà máy nguồn lại chậm triển khai, làm giảm hiệu quả khai thác của công trình truyền tải trong nhiều năm. Nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng trên là sự khác biệt về cơ chế và chủ thể đầu tư giữa nguồn điện và lưới điện truyền tải. Trong những năm gần đây, lĩnh vực phát triển nguồn điện đã từng bước thu hút mạnh mẽ sự tham gia của khu vực tư nhân thông qua các cơ chế khuyến khích đầu tư. Việc đa dạng hóa chủ thể đầu tư đã góp phần huy động hiệu quả nguồn lực xã hội, thúc đẩy tiến độ phát triển nguồn điện. Trong khi đó, đầu tư lưới điện truyền tải vẫn chủ yếu do doanh nghiệp nhà nước thực hiện theo quy định của pháp luật, mặc dù cơ chế huy động khu vực tư nhân tham gia đầu tư một số công trình truyền tải đã từng bước được nghiên cứu song còn thiếu và yếu. Bên cạnh đó, các dự án lưới điện truyền tải thường có thời gian chuẩn bị đầu tư, giải phóng mặt bằng và thi công kéo dài hơn so với các dự án nguồn điện. Sự khác biệt về chủ thể đầu tư, cơ chế huy động vốn và chu kỳ triển khai dự án đã làm gia tăng nguy cơ chênh lệch tiến độ giữa nguồn điện và lưới điện, ảnh hưởng đến khả năng phát huy hiệu quả đầu tư của cả hai hợp phần.
Thứ ba, sự thiếu đồng bộ trong vận hành hệ thống điện ngày càng rõ nét khi tỷ trọng NLTT tăng nhanh. Đặc tính biến động của điện gió và điện mặt trời đòi hỏi hệ thống phải có đủ nguồn điện linh hoạt, năng lực điều độ hiện đại, hệ thống lưu trữ năng lượng và lưới điện thông minh để duy trì cân bằng cung - cầu theo thời gian thực. Tuy nhiên, việc phát triển các nguồn lực hỗ trợ này vẫn chưa theo kịp tốc độ gia tăng của NLTT, làm gia tăng yêu cầu cắt giảm công suất hoặc huy động các nguồn điện truyền thống để bảo đảm ổn định hệ thống.
Thứ ba, sự thiếu đồng bộ trong vận hành hệ thống điện ngày càng bộc lộ rõ khi tỷ trọng NLTTkhông ngừng gia tăng. Đặc tính biến động của điện gió và điện mặt trời đặt ra yêu cầu cao hơn đối với khả năng điều độ, dự phòng công suất, lưu trữ năng lượng và tính linh hoạt của lưới điện. Tuy nhiên, việc phát triển các nguồn điện linh hoạt, hệ thống lưu trữ năng lượng, lưới điện thông minh và các công nghệ hỗ trợ vận hành vẫn chưa theo kịp tốc độ phát triển của năng lượng tái tạo. Điều này làm gia tăng yêu cầu cắt giảm công suất nguồn điện tái tạo trong một số thời điểm hoặc phải huy động các nguồn điện truyền thống nhằm bảo đảm ổn định và an toàn vận hành hệ thống.
Cuối cùng, sự thiếu đồng bộ về cơ chế quản lý và điều phối khiến các chủ thể tham gia đầu tư nguồn điện và lưới điện chưa có động lực phối hợp hiệu quả. Quy hoạch, đầu tư, vận hành và quản lý tài sản vẫn được thực hiện theo từng lĩnh vực riêng biệt; cơ chế chia sẻ thông tin, phối hợp tiến độ và phân bổ trách nhiệm giữa các bên còn hạn chế. Bên cạnh đó, cơ chế giá truyền tải hiện hành chưa phản ánh đầy đủ giá trị của hạ tầng truyền tải đối với quyết định đầu tư nguồn điện, do đó chưa tạo được tín hiệu kinh tế để định hướng phân bố nguồn điện phù hợp với khả năng tiếp nhận của hệ thống.
Những phân tích trên cho thấy, phát triển đồng bộ nguồn điện và lưới điện truyền tải không chỉ là yêu cầu về mặt kỹ thuật mà còn là bài toán tổng hợp liên quan đến quy hoạch, cơ chế đầu tư, tổ chức thực hiện, vận hành và quản trị hệ thống điện. Trong bối cảnh nhu cầu điện tiếp tục tăng cao và quá trình chuyển dịch năng lượng diễn ra mạnh mẽ, việc hoàn thiện các cơ chế nhằm nâng cao mức độ đồng bộ giữa phát triển nguồn điện và lưới điện truyền tải sẽ là yếu tố quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư, tối ưu vận hành và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.
3. Giải pháp triển đồng bộ nguồn điện và lưới điện truyền tải nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư và vận hành hệ thống điện ở Việt Nam
Trên cơ sở phân tích thực trạng phát triển nguồn điện và lưới điện truyền tải, bài báo nhận diện những tồn tại và nguyên nhân chủ yếu làm ảnh hưởng đến mức độ đồng bộ giữa hai hợp phần của hệ thống điện. Để khắc phục những hạn chế này, cần triển khai đồng bộ các giải pháp từ công tác quy hoạch, cơ chế đầu tư, tổ chức thực hiện đến vận hành và quản trị hệ thống điện. Các giải pháp được đề xuất không chỉ hướng đến nâng cao tính đồng bộ giữa phát triển nguồn điện và lưới điện truyền tải mà còn góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư, tối ưu vận hành và bảo đảm an ninh cung cấp điện trong bối cảnh chuyển dịch năng lượng tại Việt Nam.
3.1. Đồng bộ trong quy hoạch và đầu tư phát triển
Để nâng cao hiệu quả đầu tư và vận hành hệ thống điện, cần hoàn thiện công tác quy hoạch theo hướng tích hợp giữa nguồn điện, lưới điện truyền tải, hệ thống lưu trữ năng lượng và nhu cầu phụ tải. Quy hoạch cần được xây dựng trên cơ sở tối ưu hóa tổng thể hệ thống, bảo đảm sự phù hợp giữa quy mô nguồn điện, năng lực truyền tải và yêu cầu vận hành, thay vì tối ưu riêng từng hợp phần.
Cùng với đó, cần tăng cường sự gắn kết giữa quy hoạch và kế hoạch đầu tư, bảo đảm các dự án nguồn điện và lưới điện được triển khai đồng bộ về tiến độ. Đối với các khu vực phát triển tập trung nguồn NLTThoặc các trung tâm điện lực mới, cần ưu tiên đầu tư đồng thời hạ tầng truyền tải nhằm nâng cao khả năng giải tỏa công suất và hạn chế tình trạng quá tải cục bộ.
Bên cạnh đó, cần xây dựng cơ chế điều phối thống nhất giữa các dự án nguồn điện và lưới điện thông qua việc giám sát tiến độ, cập nhật quy hoạch và điều chỉnh kế hoạch đầu tư theo diễn biến thực tế. Đồng thời, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế huy động nguồn lực đầu tư theo hướng khuyến khích sự tham gia của các thành phần kinh tế vào phát triển hạ tầng truyền tải phù hợp với quy định của pháp luật, góp phần nâng cao tính đồng bộ và hiệu quả đầu tư của toàn hệ thống điện.
Việc triển khai đồng bộ các giải pháp trên sẽ nâng cao chất lượng quy hoạch, tăng cường sự liên kết giữa phát triển nguồn điện và lưới điện, tối ưu hóa sử dụng nguồn lực đầu tư và tạo nền tảng cho hệ thống điện vận hành an toàn, tin cậy và hiệu quả.
3.2. Đồng bộ trong tổ chức triển khai và vận hành hệ thống điện
Việc phát triển đồng bộ nguồn điện và lưới điện chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi được gắn với phương thức vận hành hệ thống điện linh hoạt, hiện đại và có khả năng thích ứng với sự thay đổi của cơ cấu nguồn điện. Trong bối cảnh tỷ trọng các nguồn NLTTngày càng gia tăng, công tác vận hành cần được đổi mới theo hướng tối ưu hóa khả năng khai thác đồng thời cả nguồn điện và hạ tầng truyền tải, bảo đảm cân bằng cung – cầu, duy trì độ tin cậy và an toàn vận hành của hệ thống điện.
Trước hết, cần nâng cao năng lực điều độ hệ thống điện thông qua việc ứng dụng các công nghệ dự báo hiện đại và phân tích dữ liệu thời gian thực. Chất lượng dự báo phụ tải, dự báo công suất phát của điện gió và điện mặt trời cần được cải thiện nhằm xây dựng phương thức huy động nguồn điện sát với điều kiện vận hành thực tế, giảm sai lệch trong điều độ và hạn chế tình trạng cắt giảm công suất không cần thiết. Đồng thời, cần tăng cường ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và các công cụ phân tích hệ thống để hỗ trợ ra quyết định trong điều độ hệ thống điện.
Bên cạnh đó, cần phát triển các nguồn lực linh hoạt nhằm nâng cao khả năng điều chỉnh của hệ thống điện. Việc đầu tư và đưa vào vận hành các hệ thống pin lưu trữ năng lượng (BESS), thủy điện tích năng, cùng với việc khai thác hiệu quả các nguồn điện có khả năng đáp ứng nhanh, sẽ góp phần cân bằng công suất trong ngắn hạn, giảm dao động do NLTT gây ra và nâng cao khả năng tiếp nhận của lưới điện. Đồng thời, cần mở rộng các chương trình điều chỉnh phụ tải (Demand Response) và quản lý nhu cầu điện (Demand Side Management) để tăng tính linh hoạt phía phụ tải, qua đó giảm áp lực cho hệ thống trong các thời điểm phụ tải cực đại hoặc khi nguồn NLTT biến động mạnh.
Song song với đó, cần đẩy mạnh hiện đại hóa hệ thống truyền tải theo hướng lưới điện thông minh. Việc ứng dụng các công nghệ như hệ thống giám sát diện rộng (WAMS), thiết bị điện tử công suất điều khiển linh hoạt (FACTS), định mức tải động đường dây (Dynamic Line Rating - DLR) và các nền tảng giám sát, điều khiển số sẽ nâng cao khả năng khai thác hạ tầng truyền tải hiện có, tăng năng lực truyền tải mà không phải đầu tư mở rộng ngay, đồng thời nâng cao khả năng phối hợp vận hành giữa nguồn điện và lưới điện.
Cuối cùng, cần tăng cường cơ chế phối hợp vận hành giữa đơn vị điều độ hệ thống điện, đơn vị truyền tải, đơn vị phát điện và các đơn vị phân phối thông qua việc chia sẻ dữ liệu theo thời gian thực, thống nhất quy trình vận hành và xây dựng cơ chế phối hợp trong xử lý các tình huống bất thường. Việc nâng cao mức độ liên thông giữa các chủ thể tham gia vận hành sẽ góp phần tối ưu hóa phương thức huy động nguồn điện, nâng cao hiệu quả khai thác tài sản lưới điện và bảo đảm hệ thống điện vận hành an toàn, ổn định trong bối cảnh chuyển dịch năng lượng.
3.3. Đồng bộ trong cơ chế chính sách và tín hiệu kinh tế
Để bảo đảm phát triển đồng bộ giữa nguồn điện và lưới điện, bên cạnh các giải pháp về quy hoạch và vận hành, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách theo hướng tạo lập môi trường đầu tư minh bạch, đa dạng hóa nguồn lực và hình thành các tín hiệu kinh tế định hướng đầu tư theo hiệu quả của toàn hệ thống điện.
Trước hết, cần hoàn thiện cơ chế huy động nguồn lực đầu tư phát triển lưới điện truyền tải. Trong khi lĩnh vực phát triển nguồn điện đã thu hút ngày càng nhiều doanh nghiệp ngoài nhà nước tham gia đầu tư, đầu tư lưới điện truyền tải vẫn chủ yếu do Nhà nước đảm nhận, dẫn đến áp lực lớn về nguồn vốn và tiến độ triển khai. Vì vậy, cần nghiên cứu hoàn thiện khung pháp lý để mở rộng khả năng huy động khu vực tư nhân tham gia đầu tư các công trình truyền tải thông qua các hình thức hợp tác công - tư (PPP) hoặc các mô hình đầu tư phù hợp với đặc thù của ngành điện, đồng thời bảo đảm Nhà nước giữ vai trò quản lý, điều độ và kiểm soát vận hành hệ thống truyền tải. Việc đa dạng hóa nguồn lực đầu tư sẽ góp phần rút ngắn tiến độ xây dựng các công trình lưới điện, giảm áp lực ngân sách nhà nước và nâng cao khả năng phát triển đồng bộ với các dự án nguồn điện.
Bên cạnh đó, cần từng bước hoàn thiện cơ chế giá điện theo hướng phản ánh đầy đủ chi phí của từng khâu trong chuỗi cung ứng điện năng, đặc biệt là xây dựng lộ trình tách giá truyền tải khỏi giá bán lẻ điện. Giá truyền tải cần được xác định độc lập, minh bạch và phản ánh đúng chi phí đầu tư, vận hành của hệ thống truyền tải. Điều này không chỉ nâng cao tính minh bạch của thị trường điện mà còn tạo điều kiện hình thành các tín hiệu kinh tế rõ ràng đối với quyết định đầu tư nguồn điện, đồng thời tạo cơ sở để đánh giá hiệu quả hoạt động của lĩnh vực truyền tải và thu hút các nguồn lực đầu tư trong tương lai.
Trên cơ sở đó, cần nghiên cứu áp dụng các tín hiệu kinh tế trong lựa chọn vị trí và quy mô đầu tư nguồn điện. Các quyết định đầu tư không chỉ dựa trên tiềm năng tài nguyên mà cần xem xét đồng thời khả năng tiếp nhận của lưới điện, nhu cầu phụ tải và chi phí truyền tải tại từng khu vực. Đối với những khu vực có hạ tầng truyền tải còn dư địa hoặc có nhu cầu phụ tải lớn, cần có cơ chế khuyến khích đầu tư nhằm khai thác hiệu quả tài sản lưới điện hiện có. Ngược lại, tại các khu vực có nguy cơ quá tải, cần áp dụng các cơ chế phù hợp như yêu cầu kết hợp đầu tư hệ thống lưu trữ năng lượng, chia sẻ chi phí nâng cấp lưới điện hoặc điều chỉnh quy mô nguồn điện để giảm áp lực lên hệ thống truyền tải.
Cuối cùng, cần hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả phát triển hệ thống điện theo hướng lấy hiệu quả của toàn hệ thống làm tiêu chí trung tâm. Các chỉ tiêu như mức độ đồng bộ giữa phát triển nguồn điện và lưới điện, tỷ lệ giải tỏa công suất nguồn điện, mức độ khai thác tài sản truyền tải và tỷ lệ cắt giảm công suất NLTTcần được theo dõi thường xuyên nhằm phục vụ công tác điều hành, điều chỉnh chính sách và phân bổ nguồn lực đầu tư.
Việc hoàn thiện đồng bộ cơ chế chính sách và các tín hiệu kinh tế sẽ tạo động lực thúc đẩy phát triển đồng bộ giữa nguồn điện và lưới điện, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực đầu tư, tăng cường khả năng tích hợp NLTTvà góp phần xây dựng thị trường điện cạnh tranh theo hướng minh bạch, hiệu quả và bền vững.
4. Kết luận
Phát triển đồng bộ nguồn điện và lưới điện là điều kiện quan trọng để nâng cao hiệu quả đầu tư, khai thác tối ưu hạ tầng điện lực và bảo đảm vận hành an toàn, tin cậy của hệ thống điện. Kết quả nghiên cứu cho thấy, bên cạnh yêu cầu hoàn thiện quy hoạch và đầu tư, cần tăng cường tính đồng bộ trong vận hành, đồng thời tiếp tục đổi mới cơ chế chính sách và các công cụ kinh tế nhằm tạo động lực phát triển cân bằng giữa nguồn điện và lưới điện. Trong bối cảnh Quy hoạch điện VIII điều chỉnh đang được triển khai và quá trình chuyển dịch năng lượng diễn ra mạnh mẽ, các giải pháp này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực, tăng cường khả năng tích hợp NLTT và hướng tới phát triển hệ thống điện Việt Nam theo hướng hiện đại, bền vững.
Tài liệu tham khảo
- Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2025), Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045;
- Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2025), Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân;
- Quốc hội (2024), Luật Điện lực số 61/2024/QH15;
- Thủ tướng Chính phủ (2023), Quyết định số 500/QĐ-TTg ngày 15/5/2023 phê duyệt Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Quy hoạch điện VIII);
- Thủ tướng Chính phủ (2025), Quyết định số 768/QĐ-TTg ngày 15 tháng 4 năm 2025 phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Điều chỉnh Quy hoạch điện VIII);
- Chính phủ (2025), Nghị định số 18/2025/NĐ-CP ngày 08/02/2025 quy định chi tiết một số điều của Luật Điện lực liên quan đến hoạt động mua bán điện và tình huống bảo đảm cung cấp điện;
- Chính phủ (2025), Nghị định số 56/2025/NĐ-CP ngày 03/3/2025 quy định chi tiết một số điều của Luật Điện lực về quy hoạch phát triển điện lực, phương án phát triển mạng lưới cấp điện, đầu tư xây dựng dự án điện lực và đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư dự án kinh doanh điện lực;
- Chính phủ (2025), Nghị định số 57/2025/NĐ-CP ngày 03/3/2025 quy định cơ chế mua bán điện trực tiếp giữa đơn vị phát điện năng lượng tái tạo và khách hàng sử dụng điện lớn;
- Bộ Công Thương (2025), Thông tư số 12/2025/TT-BCT ngày 01/02/2025 quy định phương pháp xác định giá dịch vụ phát điện; nguyên tắc tính giá điện để thực hiện dự án điện lực; nội dung chính của hợp đồng mua bán điện;
- Bộ Công Thương (2025), Thông tư số 14/2025/TT-BCT ngày 01/02/2025 quy định phương pháp lập, hồ sơ, trình tự, thủ tục phê duyệt giá dịch vụ truyền tải điện;
