
Kinh nghiệm quốc tế về phát triển cơ sở hạ tầng Logistics và đề xuất giải pháp cho Việt Nam
09:36 - 09/05/2026
ThS. Vũ Đức Minh
Trường Đại học Thuỷ lợi
Tóm tắt: Trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự dịch chuyển mạnh mẽ của chuỗi cung ứng, cơ sở hạ tầng logistics không chỉ đóng vai trò là nền tảng kỹ thuật mà còn là động lực chiến lược quyết định năng lực cạnh tranh và sự tăng trưởng bền vững của kinh tế quốc gia. Bài viết tập trung phân tích mô hình phát triển cơ sở hạ tầng logistics của Hà Lan, quốc gia sở hữu hệ thống logistics hàng đầu thế giới. Kết quả nghiên cứu kỳ vọng cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn giúp các nhà hoạch định chính sách tối ưu hóa nguồn lực, đưa Việt Nam trở thành trung tâm logistics trọng điểm của khu vực.
Từ khoá: cảng Rotterdam; cơ sở hạ tầng logistics; kinh tế quốc gia; sân bay Amsterdam.
1. Khái quát về cơ sở hạ tầng logistics và tác động của cơ sở hạ tầng logistics đối với nền kinh tế quốc gia.
1.1. Khái quát về cơ sở hạ tầng logistics
Trong những năm qua, Chính phủ Việt Nam đã thể hiện quyết tâm mạnh mẽ thông qua việc ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật toàn diện nhằm kiến tạo hành lang pháp lý cho ngành logistics. Trọng tâm của nỗ lực này là Quyết định số 221/QĐ-TTg, văn bản không chỉ đặt ra các mục tiêu về việc giảm chi phí logistics xuống mức 16-20% GDP, mà còn định hình lộ trình số hóa và xanh hóa ngành vận tải. Tiếp nối là các quy hoạch hạ tầng chiến lược như Quyết định số 1579/QĐ-TTg về hệ thống cảng biển và Quyết định số 648/QĐ-TTg về mạng lưới hàng không, cho thấy tư duy dịch chuyển từ đầu tư dàn trải sang tập trung nguồn lực vào các siêu cửa ngõ như cảng Cái Mép - Thị Vải hay sân bay Long Thành.
Có thể thấy, cơ sở hạ tầng logistics tốt là cực kỳ quan trọng nếu một quốc gia muốn tạo thuận lợi cho thương mại, kinh doanh. Nó tác động trực tiếp đến nền kinh tế của quốc gia khi cho phép hàng hóa được vận chuyển một cách hiệu quả đến các cảng, sân bay có sẵn và cuối cùng là đến các quốc gia khác. Vì vậy, một quốc gia có cơ sở hạ tầng logistics hiện đại sẽ tiết kiệm chi phí, tăng năng lực cạnh tranh và thu hút đầu tư. Ngược lại, cơ sở hạ tầng yếu kém sẽ làm chậm dòng chảy hàng hóa, tạo ra điểm nghẽn và kìm hãm phát triển kinh tế.
Theo Đặng Đình Đào và Nguyễn Phương Lan (2022), cơ sở hạ tầng logistics là sự tích hợp các hạ tầng giao thông, thương mại, công nghệ thông tin và các ngành dịch vụ khác, cùng với hệ thống kho bãi, khu công nghiệp logistics, trung tâm logistics (dành cho các doanh nghiệp logistics) trong nền kinh tế… là điều kiện cơ bản cho các hoạt động của hệ thống logistics vận hành trên thị trường một cách hiệu quả.
Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương (2023) định nghĩa cơ sở hạ tầng logistics là tất cả những cơ sở vật chất và kỹ thuật đóng vai trò là nền tảng quan trọng phục vụ cho ngành dịch vụ logistics, bao gồm đường bộ, đường sắt, cảng biển, sân bay, kho bãi và hệ thống thông tin liên lạc.
Cơ sở hạ tầng logistics là các yếu tố cơ bản trong hoạt động của mạng lưới logistics thông qua việc tích hợp các phương thức vận tải hàng hải, hàng không và đường bộ (A. A. Zuraimi và cộng sự, 2013). Bên cạnh đó còn là cơ sở hạ tầng về kinh tế, đường sắt, giao thông đường bộ, cảng, lĩnh vực hàng không, viễn thông và năng lượng (W.Fedderkeand Z.Bogetic, 2006). Những lĩnh vực này phối hợp với nhau để tạo điều kiện thuận lợi cho việc di chuyển hàng hóa từ điểm gốc đến điểm tiêu thụ cuối cùng một cách hiệu quả nhất (Waters, D., & Rinsler, S., 2014).
Theo Wang, Y., & Zhao, L., (2020), cơ sở hạ tầng logistics hiện đại là một hệ thống tích hợp đa phương thức, trong đó hạ tầng kỹ thuật số (như IoT, Blockchain và Big Data) đóng vai trò xương sống để kết nối các cơ sở vật chất vật lý, giúp tăng cường khả năng phục hồi và tính bền vững của chuỗi cung ứng toàn cầu.
Như vậy, cơ sở hạ tầng logistics được hiểu là tổng hợp các yếu tố cơ bản phục vụ cho sự phát triển của hoạt động logistics bao gồm hệ thống giao thông vận tải (cầu, đường, cảng biển, sân bay), kho bãi và hệ thống công nghệ thông tin và truyền thông.
Cơ sở hạ tầng Logistics thông thường được chia thành ba nhóm, cơ sở hạ tầng “phần cứng”, cơ sở hạ tầng “phần mềm” và cơ sở hạ tầng “kết nối”:
Cơ sở hạ tầng phần cứng: là hệ thống những công trình vật chất kỹ thuật, các công trình kiến trúc và các phương tiện về tổ chức cơ sở hạ tầng mang tính nền móng cho sự phát triển của ngành giao thông vận tải thương mại và nền kinh tế bao gồm hệ thống cầu, đường, cảng biển, cảng sông, nhà ga, sân bay, bến bãi và hệ thống trang thiết bị phụ trợ: thông tin tín hiệu, biển báo, đèn đường. Đây là nền tảng vật chất kỹ thuật quyết định khả năng thông quan và tốc độ luân chuyển hàng hóa của một quốc gia. Hiệu quả của các nút thắt giao thông (cảng, ga) và các liên kết (đường sá) trực tiếp ảnh hưởng đến chi phí logistics toàn phần. (Rushton, A., Croucher, P., & Baker, P. , 2022)
Cơ sở hạ tầng phần mềm: là các quy tắc, định chế và môi trường kinh doanh cho phép các dịch vụ logistics được thực hiện. Một môi trường pháp lý minh bạch và thủ tục hải quan đơn giản hóa là yếu tố then chốt để thu hút đầu tư vào chuỗi cung ứng. Ngoài ra còn bao gồm khung pháp lý (luật, nghị định), thủ tục hành chính, quy trình hải quan, các tiêu chuẩn chất lượng (ISO), và các hiệp định thương mại tự do (FTA) (Arvis, J. F. và cộng sự, 2018).
Cơ sở hạ tầng kết nối: đây không chỉ đơn thuần là công cụ hỗ trợ mà đã trở thành yếu tố quyết định tính cạnh tranh. Sự tích hợp giữa dòng vật chất và dòng thông tin thông qua các nền tảng số hóa giúp tạo ra các chuỗi cung ứng thông minh, có khả năng tự thích ứng và dự báo nhu cầu của khách hàng cũng như sự biến động, thay đổi của nền kinh tế. Hạ tầng kết nối bao gồm hệ thống trao đổi dữ liệu điện tử, mạng viễn thông, cảm biến IoT, công nghệ Blockchain trong quản lý vận đơn và các phần mềm quản lý kho, quản lý vận tải, điện toán đám mây và dữ liệu lớn (Christopher, M., 2016)
1.2. Cơ sở hạ tầng logistics và sự phát triển kinh tế quốc gia
Đối với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, việc đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng logistics sẽ giúp nâng cao năng lực hệ thống logistics, chất lượng dịch vụ logistics, và giá trị gia tăng. Từ đó, tạo điều kiện hạ thấp chi phí logistics, rút ngắn thời gian vận chuyển, tạo cơ hội mở rộng kinh doanh, tăng hiệu quả và năng lực cạnh tranh cho quốc gia, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Tác động biên của việc đầu tư thêm một đơn vị hạ tầng vào tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển thường lớn hơn ở các nước đã phát triển. Việc tăng đầu tư vào cơ sở hạ tầng thêm 1% vào năm trước sẽ làm tăng trưởng GDP trung bình thêm 0,3% ở năm tiếp theo. Trong khi đó, tác động này đối với các nước khu vực ASEAN cao hơn 0,59% so với các nền kinh tế tiên tiến.
Ngoài ra, cơ sở hạ tầng logistics giúp kết nối cung cầu, kích cầu hàng hóa, phát triển thương mại. Phát triển hạ tầng logistics sẽ giúp các doanh nghiệp rút ngắn và tăng hiệu quả từ khâu đầu vào nguyên liệu đến sản xuất và phân phối sản phẩm tới người tiêu dùng. Hạ tầng logistics còn giúp cung ứng sản phẩm nhanh, kịp thời, tạo ra các tiện ích về thời gian, địa điểm cung ứng hàng hóa; giúp mở rộng thị phần cho doanh nghiệp, từ đó doanh thu và lợi nhuận tăng lên, góp phần vào phát triển doanh nghiệp nói riêng cũng như phát triển kinh tế của đất nước nói chung.
Bên cạnh đó, cơ sở hạ tầng logistics phát triển giúp giảm chi phí logistics và việc vận chuyển hàng hóa được thông suốt do sự kết nối chặt chẽ giữa các cảng, ga, đường sắt, đường bộ và đường hàng không; giúp mở rộng thị trường trên toàn thế giới, thúc đẩy sự kết nối mạng lưới của các công ty logistics toàn cầu, từ đó hàng hóa có thể tiếp cận được với nhiều nơi trên thế giới, thị phần được mở rộng. Ngoài ra, còn thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào phát triển hạ tầng logistics, góp phần mở rộng quy mô kinh doanh của doanh nghiệp và tăng trưởng kinh tế trong dài hạn.
2. Nghiên cứu điển hình cơ sở hạ tầng logistics tại Hà Lan
Theo Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) năm 2024, Hồng Kông, Singapore và Hà Lan là những nơi có cơ sở hạ tầng tốt nhất thế giới. Báo cáo Năng lực Cạnh tranh Toàn cầu do WEF công bố xếp hạng 137 quốc gia theo thang điểm trong đó 7 điểm là cao nhất. Điểm được tích lũy dựa trên chất lượng của các loại cơ sở hạ tầng khác nhau, chẳng hạn như đường sắt, bến cảng và sân bay. Theo kết quả của xếp hàng này, Hồng Kông có số điểm là 6.7, Singapore 6.5 và Hà Lan là 6.4.
Theo Cục Thống kê Trung ương Hà Lan (CBS), Hà Lan có diện tích khoảng 41.865 km², bao gồm hơn 139.124 km đường bộ, 3.654 km cao tốc, gần 7.000 km đường sắt và 6.237 km đường thủy nội địa. Bên cạnh đó, Hà Lan còn sở hữu khoảng 38 nghìn km đường dành cho xe đạp, nâng tổng số cơ sở hạ tầng giao thông lên hơn 186 nghìn km, tương đương gần 11 mét/người dân. Cơ sở hạ tầng này thực sự là nền tảng cho xã hội và nền kinh tế Hà Lan phát triển.
Hai trong số các cơ sở hạ tầng logistics trọng điểm của Hà Lan, đóng góp gần 12% GDP quốc gia, là sân bay Amsterdam và cảng Rotterdam.
Thông tin chi tiết bài viết tại đây
