
Chuyển đổi số trong công tác phòng, chống hàng giả và gian lận thương mại
11:10 - 25/06/2026
Nguyễn Đức Thắng
Thanh tra Chính phủ, Phó Chủ tịch thường trực Quỹ chống hàng giả
Tóm tắt: Chuyển đổi số đang trở thành yếu tố then chốt và là vũ khí quyết định trong công tác phòng, chống hàng giả và gian lận thương mại hiện nay. Vấn đề hàng giả và gian lận thương mại ngày càng tinh vi, đặc biệt là trên môi trường thương mại điện tử (e-commerce). Các hành vi như buôn lậu, hàng giả, gian lận xuất xứ, trốn thuế xuyên biên giới diễn ra với tốc độ nhanh và quy mô lớn, khiến các phương pháp kiểm tra thủ công truyền thống không còn hiệu quả.Việc áp dụng công nghệ giúp các cơ quan quản lý chuyển từ xử lý vụ việc sang chủ động phòng ngừa, dự báo nhằm tạo ra những đột phá trong công tác phòng, chống hàng giả và gian lận thương mại
Từ khoá: Gian lận thương mại; Quản lý nhà nước; Quản lý thị trường; phòng chống hàng giả.
1. Khái quát về chuyển đổi số
Chuyển đổi số là quá trình tích hợp các công nghệ số vào mọi khía cạnh của tổ chức nhằm cải thiện hoạt động, tăng cường hiệu quả và tạo ra giá trị mới. Quá trình này không chỉ liên quan đến việc áp dụng các công nghệ tiên tiến như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, và Internet vạn vật, mà còn đòi hỏi thay đổi về tư duy, quy trình làm việc và văn hóa làm việc. Chuyển đổi số giúp tổ chức tối ưu hóa hoạt động, cung cấp dịch vụ chất lượng hơn, đưa ra quyết định kịp thời hơn, ban hành chính sách tốt hơn, sử dụng nguồn lực tối ưu hơn.
Hiện nay trên thế giới, chuyển đổi số đang trở thành xu thế toàn cầu, đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội và công nghệ. Đây là quá trình áp dụng các công nghệ tiên tiến như trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), Internet vạn vật (IoT), và điện toán đám mây để thay đổi cách các tổ chức, doanh nghiệp và chính phủ vận hành, nhằm tăng hiệu quả, đổi mới sáng tạo và tạo ra giá trị mới. Các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước phát triển, đang dẫn đầu trong quá trình này với sự đầu tư mạnh mẽ vào cơ sở hạ tầng công nghệ và các chiến lược chuyển đổi toàn diện. Trong lĩnh vực kinh tế, chuyển đổi số giúp tối ưu hóa hoạt động sản xuất, nâng cao hiệu quả quản lý và cá nhân hóa trải nghiệm khách hàng. Những tập đoàn lớn như Amazon, Google, và Tesla là ví dụ tiêu biểu trong việc ứng dụng công nghệ số để cách mạng hóa các ngành công nghiệp. Trong khi đó, ở lĩnh vực công, nhiều quốc gia đã xây dựng chính phủ điện tử, giúp đơn giản hóa thủ tục hành chính và tăng cường tính minh bạch, như mô hình e-Estonia của Estonia.
Việt Nam chúng ta, chuyển đổi số đang trở thành xu thế tất yếu và là động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Với quyết tâm cao và sự chỉ đạo mạnh mẽ của cả hệ thống chính trị: Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27 tháng 9 năm 2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư; Nghị quyết số 50/NQ-CP ngày 17/4/2020 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030; Chỉ thị số 34/CT-TTg ngày 16/9/2024 của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng đề án chuyển đổi số của các bộ, ngành, địa phương. Chuyển đổi số tại Việt Nam đang diễn ra sôi động ở nhiều lĩnh vực, từ kinh tế, giáo dục, y tế đến quản lý nhà nước, tạo ra những thay đổi sâu rộng về cách thức vận hành và cung cấp dịch vụ. Trong lĩnh vực kinh tế, nhiều doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các tập đoàn lớn như Viettel, Vingroup, và FPT, đã tiên phong ứng dụng các công nghệ tiên tiến như trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), và điện toán đám mây vào sản xuất, kinh doanh. Ở lĩnh vực công, Việt Nam đang tập trung xây dựng chính phủ số với các nền tảng như: Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư; Cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai; Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp; Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài chính; Cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm; Cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan nhà nước; Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính. Điều này giúp đơn giản hóa thủ tục hành chính, tiết kiệm thời gian, và tăng tính minh bạch.
Vì vậy, chuyển đổi số là xu thế tất yếu, là yêu cầu bắt buộc và là động lực quan trọng phát triển lực lượng sản xuất, hoàn thiện quan hệ sản xuất đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Công tác phòng, chống hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng và gian lận thương mại cũng không nằm ngoài xu thế khách quan trong kỷ nguyên khoa học công nghệ này.
2. Định hướng chuyển đổi số trong công tác phòng, chống hàng giả và gian lận thương mại
Bộ Công thương là đơn vị quản lý nhà nước về lĩnh vực phòng, chống hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng và gian lận thương mại, chủ trì rà soát, tham mưu cấp có thẩm quyền sửa đổi, hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan; Phối hợp với địa phương, các bộ, ngành liên quan trong trao đổi thông tin, chia sẻ thông tin nhanh…nhằm nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng và gian lận thương mại. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số trong quản lý, giám sát, tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa Bộ Công thương với các bộ, ban, ngành; nâng cao hiệu quả công tác thu thập, phân tích, xử lý thông tin nhằm hỗ trợ tốt cho các hoạt động nghiệp vụ.
Ngày 9/3, Bộ Công Thương đã ban hành Quyết định số 405/QĐ-BCT về kế hoạch chuyển đổi số giai đoạn 2026 – 2030 triển khai các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Kế hoạch chuyển đổi số của Bộ giai đoạn 2026 - 2030 nhằm thúc đẩy quá trình chuyển đổi số trong toàn ngành Công Thương theo hướng đồng bộ, liên thông và hiệu quả. Qua đó, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới, đồng thời cụ thể hóa các chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước về thúc đẩy chuyển đổi số nhanh, đồng bộ trong hệ thống chính trị. Đồng thời, phục vụ yêu cầu sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy và nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước. Kế hoạch chuyển đổi số giai đoạn 2026 - 2030, hướng tới các mục tiêu: Phát triển Chính phủ số; Thúc đẩy Kinh tế số và Thương mại điện tử; Tập huấn và Nâng cao nhận thức; Dịch vụ công trực tuyến.
Tuy nhiên, để đáp ứng những đòi hỏi khách quan về phát triển khoa học công nghệ trong công tác phòng, chống hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng và gian lận thương mại trong kỷ nguyên mới vươn mình của dân tộc Bộ Công thương rất cần có định hướng trung hạn trên một số chỉ tiêu tổng quát, như sau:
- Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và hành động của lãnh đạo, công chức, viên chức quản lý lĩnh vực và người dân, người tiêu dùng về chuyển đổi số. Từng bước, đổi mới hoạt động quản lý, điều hành của Bộ sang hình thức sử dụng và lưu trữ văn bản số, giảm chi phí hoạt động, từng bước xây dựng môi trường làm việc hiện đại, tiết kiệm, hiệu quả.
- Tạo lập kho dữ liệu số ngành lĩnh vực công tác phòng, chống hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng và gian lận thương mại đáp ứng các yêu cầu về cập nhật thông tin, kết nối, chia sẻ tài nguyên thông tin về công tác phòng, chống hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng và gian lận thương mại trong toàn quốc.
- Phát triển các ứng dụng, dịch vụ theo hướng sử dụng chung hạ tầng số, nền tảng số; sử dụng các công cụ phân tích thông minh để giúp lãnh đạo Bộ kịp thời đưa ra các quyết sách trong công tác quản lý nhà nước về công tác phòng, chống hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng và gian lận thương mại.
Phát triển nguồn nhân lực thực hiện chuyển đổi số hiệu quả, bền vững, giúp thực hiện thành công các mục tiêu trong Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
3. Một số giải pháp chuyển đổi số trong công tác phòng, chống hàng giả và gian lận thương mại
Để có thể sớm triển khai có hiệu quả các mục tiêu ứng dụng công nghệ trong công tác phòng, chống hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng và gian lận thương mại trong thời gian tới từ nay đến năm 2030, chúng ta cần thực hiện một số giải pháp trọng tâm như sau:
- Một là, lồng ghép nội dung nâng cao nhận thức về chuyển đổi số vào chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ công tác phòng, chống hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng và gian lận thương mại; tuyên truyền nâng cao nhận thức về an toàn, an ninh thông tin tới người dân, doanh nghiệp;
- Hai là, chuyển đổi toàn bộ hệ thống thiết bị CNTT, phần mềm ứng dụng sang công nghệ mới, hiện đại đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn quy định hiện hành;
- Ba là, triển khai và duy trì đảm bảo an toàn, an ninh thông tin (SOC); đánh giá an toàn thông tin theo cấp độ và tổ chức tập huấn, diễn tập đảm bảo an toàn, an ninh thông tin phục vụ chuyển đổi số của Chính phủ;
- Bốn là, triển khai nâng cấp Hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia đảm bảo kết nối dữ liệu trên phạm vi toàn quốc và liên thông trong toàn hệ thống các cơ quan, đơn vị liên quan để người dân và doanh nghiệp được tham gia, thụ hưởng.
- Năm là, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát đối với công tác kiểm tra chuyên ngành, tăng cường kiểm tra công vụ, kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân thiếu tinh thần trách nhiệm, tiêu cực, buông lỏng quản lý, tiếp tay cho buôn lậu, gian lận thương mại, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ; đồng thời biểu dương, khen thưởng kịp thời tập thể, cá nhân sáng tạo áp dụng khoa học công nghệ trong thực thi nhiệm vụ./.
Tài liệu tham khảo
Bộ Công Thương (2025), Báo cáo tổng kết công tác ngành Công Thương năm 2025, giai đoạn 2021 - 2025 và triển khai nhiệm vụ trọng tâm năm 2026
Bộ Chính trị (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia
Kế hoạch số 02-KH/BCĐTW ngày 19/6/2025 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về thúc đẩy chuyển đổi số liên thông, đồng bộ, nhanh, hiệu quả đáp ứng yêu cầu sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị;
Chương trình số 02-CTr/BCĐTW ngày 02/02/2026 của Ban Chi đạo Trung ương thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW;
Chính phủ (2025), Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 01/4/2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung, cập nhật Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia;
Chính phủ (2025, Nghị quyết số 214/NQ-CP ngày 23/ 7/2025 của Chính phủ ban hành kế hoạch hành động của Chínhphủ về thúc đẩy tạo lập dữ liệu phục vụ chuyển đổi số toàn diện
Quyết định số 1132/QĐ-TTg ngày 09/10/2024 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược hạ tầng số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030; Căn cứ Quyết định số 2629/QĐ-TTg ngày 01 tháng 12 năm 2025 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phát triển Chính phủ số.
DIGITAL TRANSFORMATION IN THE FIGHT AGAINST COUNTERFEITING AND COMMERCIAL FRAUD
Nguyen Duc Thang
Digital transformation has emerged as a critical driver and an effective tool in combating counterfeiting and commercial fraud. In the context of rapid digitalization and the expansion of e-commerce, counterfeit production, smuggling, origin fraud, intellectual property violations, and cross-border tax evasion are becoming increasingly sophisticated and widespread. Traditional inspection and enforcement methods, which largely rely on manual processes, are struggling to keep pace with these evolving challenges.
The adoption of advanced technologies such as big data analytics, artificial intelligence, blockchain, and digital traceability systems enables regulatory authorities to enhance monitoring, risk assessment, and early detection of violations. As a result, management agencies can shift from a reactive approach focused on handling incidents to a proactive model centered on prevention, forecasting, and timely intervention. Digital transformation therefore creates significant opportunities to improve the effectiveness of state management, strengthen market supervision, and enhance the overall efficiency of efforts to combat counterfeiting and commercial fraud.
Keywords: Counterfeiting; commercial fraud; digital transformation; market surveillance;state management.
